Monday, January 13, 2025

Đi Giữa Bầy Thú Dữ

Chúng tôi theo xe hàng từ Phnom Penh lên cảng Kampong Som, trễ mất gần hai tiếng đồng hồ. Ngày đã xế, nhưng nắng còn đổ lửa trên đầu. Trời đứng gió, cái nóng hừng hực như hắt ra từ lò sấy. Người dẫn mối cứ thôi thúc nhanh lên, nhanh lên. Đồ đạc cái xách cái mang tất tả đến được điểm hẹn, chúng tôi mệt phờ người. Ba gã chủ chốt người Miên còn kiên nhẫn chờ trên đầu dốc nơi ngã ba đường lên chợ, dưới bóng râm của một tàng cây. Hai gã ngồi trên hai chiếc xe Honda, phì phà điếu thuốc. Gã thứ ba đứng dựa lưng vào gốc cây. Thấy chúng tôi tới, họ bu lại vồn vã, cùng lúc những chiếc xe đò cổ lỗ xỉ ì ạch bò lên dốc. Khói xe và hơi nóng phả vào mặt. Đây là lần đầu tiên tôi gặp họ. Người dẫn mối giới thiệu chúng tôi bằng tiếng Miên. Họ cũng tự giới thiệu lại mình. Một gã tên Nu da xám, môi chì, mắt trắng, nói thạo tiếng Việt. Hai gã kia chỉ nói tiếng Miên, tên khó nhớ. Gã tóc quăn, có bịt răng vàng. Giữa cái răng vàng cẩn hình trái tim. Gã thứ ba mặt mày sáng sủa đẹp trai, Tàu lai Miên. Tất cả, trạc tuổi ngoài ba mươi, mặc đồ chải chuốt lịch sự, tư cách đàng hoàng đáng tin cậy.


Tôi xin lỗi vì trễ hẹn, và giải thích rằng đường từ thủ đô lên cảng có quá nhiều trạm kiểm soát làm mất thì giờ.
Gã tên Nu nói không sao, làm ăn đôi khi trễ nải là chuyện thường. Gã cho biết về phần gã đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi, còn phần tôi thì sao?
Tôi nói: “Cũng sẵn sàng.”

Gã hỏi nhỏ: “Có đem theo đủ số không?”
“Đủ. Đi liền bây giờ chưa?”

“Dĩ nhiên.”

Nu quay qua nói với hai gã kia điều gì đó. Trông họ rất phấn khởi. Tôi cũng mừng. Dù trễ hẹn, nhưng mọi việc vẫn tiến hành đúng như dự định.

Xe Honda bắt đầu nổ máy kêu lụp bụp như con ngựa cuồng chân nóng nảy lên đường. Tôi chào từ giã người dẫn mối. Anh là người Việt sống lâu năm ở Kampuchia, cũng là người cuối cùng của đường dây tiếp nhận lúc chúng tôi mới đặt chân đến Phnom Penh. Nhiệm vụ của anh là hướng dẫn, và giao chúng tôi cho người chủ chốt. Anh ta bắt tay tôi lần chót, chúc may mắn. Nu cho biết sẽ đi về hướng Tân Hao, bảo vợ con tôi ngồi xe của gã Tàu lai. Con tôi ngồi giữa. Vợ tôi ngồi sau, choàng tay qua đứa con, ôm eo gã Tàu lai. Nu và tôi đi chung với gã răng vàng. Mỗi chiếc Honda chở ba người. Xe chạy. Tôi ngó ngoái về phía sau, thấy người dẫn mối còn giơ tay vẫy vẫy.

Đường đi Tân Hao rộng thoáng. Mặt đường không tráng nhựa. Nhiều đoạn lởm chởm trơ ra những sỏi đá, hoặc trũng thành ổ gà. Thế nhưng hai chiếc Honda vẫn phóng như bay. Không khéo cán phải đá hay vấp ổ gà, quăng cả lũ xuống đường, sứt tay gãy gọng như chơi. Tôi nói với Nu, bảo gã lái xe chạy cẩn thận hơn. Nu cười rằng đừng lo, gã đã từng lái xe trên đường này hàng trăm lần rồi, chưa bao giờ xảy ra tai nạn.

Hai bên đường là rừng. Có lúc xe chạy ngang qua trảng trống, hoặc đồng cỏ tranh. Nhìn xa xa về bên trái, thấy bờ biển và mặt nước xanh rờn, bao la ngút mắt. Mùa này, gió lặng sóng êm. Mặt biển láng như trải lụa. Vùng biển từ đây tới Lem Ngộp, Nu bảo đảm không có hải tặc. Mọi việc chắc chắn sẽ êm xuôi. Và vào khoảng quá nửa đêm, sẽ đặt chân lên bờ biển Thái Lan. Nghĩ tới một chân trời mới sẽ mở ra cũng đủ thấy đời tươi đẹp. Tự nhiên yêu biển lạ lùng.

Xe đang chạy, Nu bảo: “Sắp tới nơi rồi. Đưa vàng.”
Tôi hỏi: “Sao không chờ lúc xuống bãi?”

“Tới nơi là gấp rút chạy ào xuống bãi lên ghe. Nếu lằng nhằng mất thì giờ vì chuyện này, sẽ bể việc lớn.”

Cũng có lý. Cái giờ phút quan trọng nhất là lúc bắt đầu lên ghe. Thành hay bại cũng từ nơi khởi điểm này. Tôi nghĩ, chiếc ghe đã chờ sẵn ở đâu đó. Honda vừa ngừng là chúng tôi nhào lên ghe liền. Bọn an ninh bờ biển có trở tay cũng muộn. Bởi người đầu mối đã cho biết, ghe được trang bị máy bốn lốc đầu bạc. Tôi chẳng biết máy bốn lốc đầu bạc là máy gì, mạnh yếu ra sao? Nhưng người ta đã khoe như thế thì chắc là phải ngon lành lắm. Dù công an tuần duyên có đuổi theo, cũng đành ngửi khói mà thôi. Chúng tôi sẽ chơi một cú thật ngoạn mục. Hồi hộp bất ngờ giống như phim trinh thám. Còn chuyện đưa vàng, trước sau gì cũng đưa. Thôi thì đưa ngay bây giờ, đổi lấy một chuyến đi định mệnh. Tôi luồn tay vào cái túi nhỏ may dính dưới đũng quần lót, móc hai thỏi vàng, đưa cho Nu.

Gã đặt vàng trong lòng bàn tay nâng thử để ước lượng sức nặng, rồi nhét vội vô túi.
“Chưa đủ.” Gã nói khi xe đang chạy.

Tôi nói: “Còn hai cây nữa, vợ tôi cất.”
“Bảo vợ anh đưa ngay bây giờ.”

Tôi gật đầu.
Nu nói tiếng Miên với gã răng vàng. Gã này phóng xe lên song song với gã Tàu lai.

Tôi bảo vợ: “Anh đưa vàng rồi. Em đưa luôn cho họ đi.”
Vợ nói: “Chờ xuống bãi.”

“Họ muốn ngay bây giờ.”
“Ngồi trên xe, không lấy ra được.”

Tôi biết lý do vợ tôi không thể lấy vàng lúc này.
Tôi nói với Nu: “Anh nghe chưa?”
“Tôi nghe. Xuống bãi đưa.”

Ba gã lại nói líu lo. Xe vẫn phóng như bay, tới một khoảng rừng rậm, họ dừng lại đột ngột. Nu nắm tay vợ con tôi lôi bừa, khom người chạy lúp xúp men theo rặng phi lao, vào rừng. Có lẽ gã sợ những chiếc xe đò ngang qua nhìn thấy. Tôi ôm cái túi xách, hấp tấp chạy theo. Hai chiếc Honda bỏ chúng tôi lại đó, vọt thẳng về hướng Tân Hao. Chúng tôi luồn lách qua những lùm bụi gai góc, đến một con suối cạn. Mùa nắng, lòng suối khô phơi bày cát đá.

Vừa ngồi xuống, Nu bảo: “Núp ở đây, chờ ghe đến, mình sẽ ra bãi.”

Tôi hồi hộp, tinh thần căng thẳng đến cùng tột. Nếu bị lính Miên bắt quả tang đang núp ló để chuẩn bị lên ghe thì đời khốn nạn ngay. Vợ con tôi ngồi nép vào nhau, thở hổn hển, mặt xanh như tàu lá.

Tôi hỏi: “Anh có đi theo ghe với chúng tôi không?”
Nu nói: “Tôi đưa anh tới Thái Lan.”

Rồi gã nhìn vợ tôi, xòe tay ra: “Đưa vàng cho tôi.”

Cách nói chuyện của Nu thẳng thừng, cử chỉ thô lỗ. Tôi nghĩ gã là người Miên quen tính bộc trực nên cũng không lấy đó làm khó chịu. Chỉ cảm thấy có điều gì bất thường, khi vợ ngó tôi, ngầm hỏi ý kiến. Xuống xe, chúng tôi chạy ào, nhưng không phải ào lên ghe như Nu diễn tả, mà ào vào rừng. Ghe đâu không thấy. Thế thì có gì gấp rút? Kế hoạch thay đổi chăng? Dẫu sao, đã tới mức này rồi, một liều ba bảy cũng liều. Tôi nhìn vợ, gật đầu.

Vợ tôi đứng dậy, đi khuất vào bụi rậm. Tôi biết vợ đang móc vàng từ trong cửa mình.

Trong chuyến mang vàng lên Kamphuchia. Vợ giao tôi cất giữ năm khâu vàng, còn bao nhiêu vợ giữ. Lúc qua biên giới Việt- Miên, công an biên phòng xét hỏi. Tôi sợ quá, nhét ba chiếc khâu vô hậu môn, nghe nhói cấn khó chịu. Còn lại hai khâu không biết giấu đút nơi nào, tôi cho vô miệng nuốt luôn, trước khi họ mò xét khắp người. Tôi qua khỏi, chỉ lo vợ bị rắc rối. Nhưng vợ tôi cũng qua luôn. Sau đó, tôi hỏi em giấu ở đâu mà tài thế? Vợ mỉm cười, không nói.

Khi đến Phnom Penh, người dẫn mối gởi chúng tôi tạm trú nơi nhà người Miên. Tôi bắt đầu móc ba chiếc khâu trong hậu môn, nhưng thọt ngón tay vào không đụng. Không biết tại sao nó chạy tuốt vô sâu? Tôi hoảng. Vợ bảo, nó nằm trong phần ruột già, không đáng ngại. Khi đi cầu, phân sẽ tống nó ra trước.

Đúng như vợ dự đoán. Hôm sau tôi đi cầu. Thỏi phân như cục đất sét khô, đẩy ba chiếc khâu rớt xuống cái bô nhựa. Tôi dùng que bới cục phân, không tìm được hai chiếc khâu đã nuốt. Tôi tính đem đi đổ. Vợ giựt cái bô lại, bịt mũi rà tìm lần nữa. Vẫn không thấy.

Ngày hôm sau, tôi không đi cầu. Bao nhiêu lo lắng dồn dập làm bộ tiêu hóa nổi chứng rối loạn bất thường. Vả lại mấy ngày không ăn rau, tôi bị táo bón. Vợ nóng ruột, mua cho tôi một liều thuốc xổ. Tôi uống thuốc với nhiều nước. Và nửa khuya đêm đó, như cái nút chai bung ra, tôi tháo dạ ào ạt. Quậy trong cái chất lợn cợn dậy mùi. May quá, bắt được một khâu. Còn một khâu đi đàng nào?

Thêm ngày hôm sau nữa, tôi lại nín ỉa. Cứ vài tiếng đồng hồ, vợ bảo xách cái bô vô buồng ngồi rặn, quyết tìm cho ra chiếc khâu.

Tôi nói: “Bụng trống không, rặn thế nào được?”
“Mất chiếc khâu hai chỉ là chết em.” Vợ nhăn nhó.

“Nó không ra, anh sẽ bị nguy. Em không lo cho tính mạng anh, chỉ tiếc của.”
“Nó còn trong ấy, không đáng ngại. Sợ ra rồi mà mình không bắt gặp mới chết chứ?”

Đến ngày chúng tôi lên đường đi Kongpong Xom, chiếc khâu vàng vẫn còn lẩn trốn đâu đó trong cái dạ dày, hoặc khúc ruột ngoằn ngoèo của tôi.

Trở về với hiện tại. Khi vợ tôi từ bụi rậm đi ra, trao cho tôi một nắm khâu vàng. Những chiếc khâu được buộc thành hai chùm bằng sợi chỉ còn ươn ướt.

Tôi đưa cho Nu: “Thêm phần này là đủ số.”

Nu cầm vàng, xòe ra nhìn, suy nghĩ. Tôi đâm lo. Tổng số vàng, vẫn còn thiếu một chiếc khâu hai chỉ. Nếu Nu phát giác chưa đủ số, làm khó trong giờ phút này thì thật rắc rối. Nhưng gã chẳng nói gì, đưa lên ngửi thử.

Tôi hỏi: “Anh thử vàng cái kiểu gì lạ vậy?”

Gã không trả lời, ra dấu bảo chúng tôi ngồi yên đấy, rồi bất ngờ quay lưng lủi khuất vào rừng rậm, nhanh như con chồn.

Tôi thảng thốt: “Anh đi đâu?”
Không có tiếng trả lời.

Tôi phóng theo: “Anh ơi! Anh ơi!”
Tiếng kêu không ai hồi đáp.

Tôi lại gào bằng tiếng Miên: “Bòn ơi! Bòn ơi!”

“Bòn” có nghĩa là “anh”, tôi học được từ lúc mới đặt chân lên đất Kampuchia. Dù đã gào hai tiếng “bòn ơi” thống thiết, nhưng Nu vẫn mất hút. Tìm loanh quanh một đỗi không thấy Nu, tôi tuyệt vọng trở lại con suối, ngồi lau mồ hôi, thở dốc. Vợ con tôi co rúm người, sợ hãi. Tôi chợt nghĩ đến những trường hợp đã từng xảy ra. Nhiều người lên Kampuchia vượt biên, bị lừa lấy hết vàng, rồi bị giết luôn để trừ hậu họa.

Tôi bảo vợ: “Em dẫn con Khuê tìm chỗ kín đáo ẩn núp. Anh ở lại đây chờ xem động tịnh ra sao.”.

Khi nói điều đó tôi đã có chủ đích. Nếu chúng trở lại đưa đi thì coi như tôi hiểu lầm thiện ý của chúng. Nếu chúng manh tâm sát hại, tôi sẵn sàng một mất một còn với chúng.
Vợ tôi dẫn con tìm chỗ núp.

Tôi chạy theo dặn dò: “Dù có thế nào, em cũng đừng ra mặt.”

Ngồi một mình nơi lòng suối, tôi tự hỏi trong tay không một tấc sắt, lấy gì chống đỡ khi bộ ba của chúng trở lại? Và nếu muốn giết tôi, chúng phải tay dao tay búa sẵn sàng. Tôi khó mà thoát thân, nói chi đến chuyện dằn co ấu đả? Suy cho cùng, tôi quyết định bỏ của chạy lấy người.

Tôi đến chỗ vợ con đang trốn: “Phải rời khỏi nơi đây ngay.”
Vợ nói: “Chờ một chút. Có thể họ trở lại đưa mình đi.”

“Họ đưa đi mua muối.” Tôi gắt.
Vợ xót của: “Còn vàng trao cho họ thì sao?”

“Bỏ vàng, giữ lại cái mạng cùi.”
“Ráng chờ, anh ơi. Còn nước còn tát.”

“Nước nôi gì nữa mà tát? Hết vàng, nó sẽ lấy máu. Chạy ngay bây giờ, may ra còn kịp.”

Tôi nắm tay đứa con gái, băng ra đường. Ngoài đường trống trải. Thỉnh thoảng có xe qua lại, bọn sát nhân không dám làm ẩu. Trong khi chờ xe ngược về Kongpong Xom, vợ tôi ngồi bẹp xuống lề đường, thảm não khóc không ra tiếng. Chưa bao giờ tôi thấy cái mặt của vợ đau khổ như lúc này. Bao nhiêu tiền của chắt bóp dành dụm trong mười năm trời, chờ tôi ở tù về để cùng nhau vượt biên, bỗng chốc hóa thành trắng tay. Chuyện đời như sân khấu. Tự nhiên tôi bật cười khan. Chẳng biết tại sao tôi có thể cười được trong tình huống bi đát này? Ai đó đã nói, cười là tiếng khóc khô không lệ. Có phải tôi cười như thế không? Đời thật chó đẻ! Mình lao đao khốn khó, chạy trốn bọn ác ôn, lại gặp thằng thất đức.

Sau tiếng cười, tôi ngửa mặt lên trời, uất khí xung thiên: “Phật và Chúa đi đâu cả rồi? Sao không vặn họng mấy thằng quỷ sứ?“

Tôi muốn tiếng la vang rền cả thinh không như giọng gầm sư tử hống của Tạ Tốn. Nhưng sao tôi nghe tiếng mình nhỏ như tiếng con dế rè gáy trong bờ cỏ thấp.

Vợ tôi quẹt nước mắt, phẫn nộ: “Giờ phút này mà anh còn cười. Tôi hận anh!”
Mất của, vợ bắt đầu nổi điên, giở giọng ngang bướng xưng “tôi” với chồng.

Tôi dịu nhẹ: “Em không hiểu anh.”
“Tôi còn lạ gì anh mà không hiểu? Ai ở tù cũng đều rên xiết, nhưng anh ở tù với bộ mặt tỉnh bơ. Chuyện gì đối với anh cũng là trò đùa. Tôi mất vàng, tôi xót. Nhưng anh lại cười.”

“Em muốn anh làm sao?”
Vợ rít giữa hai hàm răng sắc lạnh: “Chém nó!”

“Anh không có dao. Anh sẽ cắn nó.”

Tôi vừa dứt câu, vợ tru lên đau đớn như sói tru trăng ngoài đại mạc.

Chúng tôi trở lại Kongpong Xom, bằng Honda ôm. Xe chở bốn người. Con Khuê ngồi trên bình xăng phía trước, trong lòng gã người Miên lái xe. Vợ chồng tôi ngồi phía sau. Trên đường đi, gã nói và chỉ trỏ vô rừng. Tôi không hiểu. Gã làm dấu bằng cách đưa bàn tay cứa ngang cổ. Ý muốn nói nhiều người đã bị giết dọc theo cánh rừng này chăng?
Chúng tôi lên tới chợ Kongpong Xom, lúc mặt trời sắp lặn. Từ khi rời Kongpong Xom cho đến lúc trở lại, chỉ cách bốn tiếng đồng hồ. Chúng tôi, những người đi tìm tương lai bỗng hóa ra kẻ đầu đường xó chợ. Tôi lang thang, làm quen với một cụ già người Việt hành nghề mài dao cho các thớt thịt. Tôi bịa ra chuyện đi tìm người bà con nhưng địa chỉ không rõ ràng nên bị lạc. Đồng thời tôi xin cụ giúp chỗ tạm trú qua đêm. Đêm đó, cụ dẫn chúng tôi về chỗ ngủ của cụ. Đây là chái hiên lề đường, bên hông một tiệm sửa Honda và xe đạp. Dọc theo các chái hiên khác, có những người hành khất nằm ngủ. Cụ nhường chiếc sạp cho vợ con tôi. Sạp kê sát đất bằng những mảnh gỗ vụn ghép lại. Cụ và tôi trải manh chiếu trên nền đất. Hơi đất lành lạnh dưới lưng, mùi dầu nhớt bốc thoang thoảng. Tôi nằm gối đầu lên bọc quần áo.

Cụ nói: “Đừng sợ mất đồ. Cùng đinh ăn mày cũng có nghĩa khí của cùng đinh ăn mày.”
“Tôi đã mất tất cả rồi. Chẳng còn gì để mất thêm.”

Tôi nói trong niềm cay đắng. Không ngờ có một ngày, mình rơi vào nỗi tận cùng bệ rạc thế này.

Nửa khuya, cụ già ngồi dậy quấn thuốc hút. Anh đèn đường vàng vọt soi không rõ. Khuôn mặt cụ nhòe bóng tối. Hình ảnh âm u, in lên nền phong héo úa như một tấm tranh đời bi thiết. Mọi vật quanh tôi đều im lìm sâu lắng. Chỉ còn tiếng muỗi vo ve. Đầu thuốc cháy, từng chặp lóe đỏ lên là điểm sáng duy nhất còn linh động.

Vợ con tôi ngủ mê mệt sau một ngày vất vả. Tôi trằn trọc đau xót mãi khôn nguôi, ngồi lên xin cụ điếu thuốc. Thuốc gắt quá, tôi ôm ngực ho sặc sụa. Nước mắt tuôn trào ràn rụa. Cụ già vỗ nhẹ vào lưng tôi như đè xuống một cơn ho, như an ủi một niềm thống khổ. Tôi quay ra ngoài hỉ mũi rẹt rẹt, và chùi nước mắt.

Cụ nói: “Dẫn vợ con đi vượt biên. Coi chừng mất mạng đấy.”
Dù tôi không bày tỏ, nhưng cụ đã biết cả rồi.
Cụ tiếp: ”Lần sau đừng dại dột tin lời người khác. Hãy về Việt Nam đi.”

Tôi nín thinh, nhìn qua dãy nhà tối ám bên kia đường. Còn có một chỗ nào để đi về không? Sau thời gian vắng mặt không lý do, tôi về là tự đem thân nạp mạng cho chính quyền địa phương.

“Cụ ơi, tôi không thể về. Tôi hết đường tới, chẳng còn đường lui.”
“Phải có cách giải quyết chứ?”

“Tôi ở lại Kampuchia, tìm việc làm.”
“Làm gì? Cái tướng trói gà của cậu khuân vác không nổi. Tính kế lừa thiên hạ ư? Tôi cho cậu biết, ở đây con người như lang sói. Cậu chưa kịp lừa ai, thiên hạ đã lừa cậu mất rồi.”

“Tôi muốn chẻ đầu bọn lừa đảo.” Khi nói, tôi nhìn những con dao chặt thịt to bản, để kế bên bộ đồ nghề mài dao của cụ.

Cụ ngó vào mặt tôi: “Dám không?”

Lời cụ như cái thước đo xem tính khí liều lĩnh của tôi tới cỡ nào. Cái mạng của bọn kia, đáng triệt tiêu để trừ bớt ung nhọt cho xã hội. Còn cái thân tôi sau đó, nếu không chết cũng chịu một hậu quả vô cùng khốc liệt. Nó có xứng đáng để tôi đánh đổi một hậu quả như thế hay không?

Cuối cùng, tôi lắc đầu nói với giọng yếu xìu: “Tôi hèn.”
Cụ quấn cho tôi thêm điếu thuốc: “Hàn Tín chịu luồn trôn giữa chợ, vì không thể lấy cái mạng đáng giá muôn người, đổi mạng của tên vô lại.”

“Tôi không thể so với Hàn Tín. Tôi hèn, vì tôi quá thương tôi.”
“Còn biết thương mình là còn ham sống. Từ từ làm lại cuộc đời.”

Cách lý luận của cụ già, tôi thấy lạ. Với một cái đầu như thế, sao lại chịu sống hẩm hiu như người hành khất?
Tôi nói: “Tôi không hiểu cụ.”

Cụ bảo: “Con người sở dĩ còn gần gũi được nhau là vì không hiểu nhau đấy.”
“Cụ nói chi lạ vậy?”

“Không phải sao? Mọi người đến với nhau bằng cái mặt nạ. Ngày nào mặt nạ rớt xuống, nhìn rõ mặt thật của nhau, ngày ấy hai bên trở thành kẻ thù.”
“Đúng vậy, cụ ơi! Tôi có thêm vài kẻ thù, nhưng mình không làm gì được nó, mới đau chứ.”

“Nếu tất cả mối thù đều có thể thanh toán thì lúc nào cũng thấy mọi người chém giết nhau.”
“Cụ là ai mà thấu rõ tình đời đến thế?” Tôi hỏi.

Cụ chỉ bộ đồ nghề: “Cậu thấy đó. Tôi là lão mài dao.”
“Phía sau tấm bình phong ấy là gì?”
“Cậu nghĩ tôi làm khổ nhục kế? Hahaha ...”

Tiếng cười òa vỡ giữa đêm khuya. Vợ tôi thức giấc trở mình. Tôi thật không hiểu tiếng cười của cụ. Óc tôi đông đặc mù mờ không còn phân định điều gì. Tiếng cười như sảng khoái, lại nhuốm một nỗi gì u uất bi thương.

Cụ tiếp: “Trước ngày mất Miền Nam, nếu cậu biết hỏi một câu như thế thì những tên ăn mày, những thằng đi mua ve chai đồ cũ đâu có mặt, để sau này thay hình đổi dạng ra làm ủy viên, chủ tịch ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.”
Tôi ngạc nhiên, một cụ già mài dao mà có được tư tưởng thế sao? Tôi chợt nhớ chuyện Kinh Kha khi đến nước Yên làm bạn với người bán thịt chó và người gảy đàn trúc tên Cao Tiệm Ly, ngày ngày cùng nhau uống rượu. Lúc rượu say, Cao Tiệm Ly gảy đàn, Kinh Kha theo đàn mà hát, và cuối cùng ôm nhau khóc giữa chợ nước Yên như chỗ không người. Họ mượn rượu cho vơi bớt nỗi niềm u uất không thể tâm sự cùng ai. Còn cụ già mài dao, lòng cụ ra sao mà cũng ưu tư thế sự?

Sáng ngày, cụ đưa chúng tôi ra bến xe về Phnom Penh. Tôi mua cho mỗi người một ổ bánh mì thịt.
Cụ nhất định không nhận: “Hãy lo cho vợ con đi. Coi bộ tình trạng sắp tới của cậu bi đát lắm đấy.”
“Chuyện gì rồi cũng sẽ qua.” Tôi nói một câu mà lòng không chủ đích.

“Cậu còn có vợ con, nghĩa là chưa mất hết đâu. Ở xứ lạ quê người, mang bộ mặt ngơ ngáo như cậu, dễ bị chúng lấy mạng, và cướp vợ con đưa vào nhà thổ.”

Giờ phút chia tay, tôi còn nhiều bịn rịn. Nhưng cụ tỏ ra cương nghị dứt khoát, khác với vẻ người đờ đẫn mà tôi gặp chiều hôm qua.
“Đi đi. Cứ như đàn bà con gái thế này thì còn làm ăn gì được?”

Tôi lên xe, lòng vẫn tự hỏi cụ già mài dao là ai? Là ai?

Tôi trở lại Phnom Penh, tìm đến cái nhà trước đây trạm trú, hỏi về người dẫn mối. Người ta không biết kẻ kia ở đâu. Hóa ra đây là nhà cho thuê giường ngủ. Lòng tôi bời bời trăm mối lo toan, nát óc nghĩ không ra lẽ. Về không được, ở không xong.

Vợ nói: “Mình có thể buôn bán.”
Tôi hỏi: “Vốn đâu?”

“Em còn một ít tiền mặt và năm phân vàng. Anh còn hai chỉ.”
“Anh làm gì có?”
Vợ chỉ vào bụng tôi: “Nó còn trong ấy. Không chạy đàng nào.”

“Tính mổ bụng anh hả?”
“Gì mà trầm trọng thế? Trước sau gì, nó cũng tự động ra thôi.”

“Nếu nó không ra?”
“Thế thì nguy cho anh.”

“Thôi, chuyện ấy tính sau. Bây giờ, lo tìm chỗ ngủ đêm nay.” Tôi nói.
Vợ đề nghị: “Thuê giường ở đây.”
“Thuê giường một đêm, họ cứa cũng bộn bạc. Mình phải tiết kiệm.”

Tôi dẫn vợ con lên chợ Ô Hòa Xây, khu chợ chính của thủ đô Phnom Penh, tìm người Việt làm quen. Trước nhà lồng chợ là dãy phố buôn bán, tập nập kẻ lại người qua. Đặc biệt có một gian nhà không bày hàng. Ngoài hành lang có những người đàn bà Việt ngồi lê trên những manh chiếu. Bên trong kê mấy cái giường sắt. Tôi rà rê tới làm quen. Vợ con tôi đứng ủ rũ sau một chiếc xe bán nước mía.

Thấy tôi, một chị hỏi: “Đấm bóp hả?”
Tôi nói: “Không. Chỉ tìm người quen.” Và bịa ra một cái tên, hỏi chị ấy có biết không.

Chị bảo: “Không biết. Sẵn dịp lại đây thì đấm bóp đi anh. Trông anh có vẻ bơ phờ lắm. Đấm bóp giác hơi cho giãn gân cốt, máu huyết lưu thông là khỏe ngay.”

Tôi lắc đầu, cười gượng.
Thêm vài chị rỗi việc bu đến. Tôi áp dụng bổn cũ soạn lại khi còn ở Kongpong Xom với cụ già mài dao, rằng tìm người bà con không gặp, nên bị lỡ đường. Xin họ giúp cho một chỗ ngủ qua đêm.

Một chị nói: “Anh về với bọn tôi đêm nay.”
Tôi chỉ về phía xe nước mía: “Còn có vợ con tôi nữa.”

“Gì mà đông thế? Kêu lại đây. Đứng xớ rớ, coi chừng bị giật đồ.”
Vợ con tôi đến. Những người đàn bà nhìn, dò xét.
“Đi tìm việc hả?”
“Không. Tìm người bà con.”

“Đừng có xạo, cha nội. Tôi biết là đi tìm việc.”

Chị khác, ngó vợ con tôi: “Chị này trông còn ngọt nước lắm. Còn con bé này có thể bưng cà phê bán dạo cho các bạn hàng trong chợ.”

Vợ tôi hỏi: “Chị nghĩ em có thể tìm được việc ở đây không?”
“Ở đây à? Định cạnh tranh nghề nghiệp với bọn tôi hả?”

“Không. Em đâu biết đấm bóp. Việc khác kìa.”
“Đàn bà con gái lên đây, đừng hòng tìm được việc gì khác, ngoài cái việc làm đĩ. Nhưng ông anh chịu cho vợ mình làm không?”

Vợ tôi xám mặt: “Xin chị đừng nói chơi.”
Chị trề môi: “Mệnh phụ, tiểu thư lúc khốn cùng túng quẫn cũng thành gái ăn sương. Ở đó mà khư khư giữ lấy cái nghìn vàng.”

Vợ tôi cúi đầu nhẫn nhục. Lòng tôi tan nát. Cái tình đồng hương trên xứ lạ, sao nghe như muối xát gừng cay.
Không muốn vợ ngồi đây để nghe những lời xúc phạm, tôi bảo: “Em dẫn con đi mua đồ ăn cho nó.”

Vợ con tôi kéo nhau qua chợ mua cơm. Mỗi phần cơm, có con cá nướng bằng ngón tay, được gói trong chiếc lá sen. Cả hai ngồi bên lề đường, bốc từng nắm cơm uể oải cho vào miệng. Nắng chiều nghiêng đổ xuống hai mẹ con một màu tàn phai héo hắt. Con tôi không còn cái vẻ hồn nhiên tuổi nhỏ. Mặt nó vô hồn ngơ ngác. Còn khuôn mặt của vợ tôi, phảng phất một chút gì hờn tủi.

Tôi xót xa, muốn bỏ đi. Nhưng giữa nơi ồn ào phồn tạp quê người, tôi biết đi đâu?

Trong khi tôi ngồi đấy, có một người đàn ông Miên bước vào. Mặt sạm đen, nhễ nhại mồ hôi như thoa một lớp dầu bóng. Lưng áo cũng ướt đầm. Nhìn cách ăn mặc, tôi đoán chừng ông ta là phu khuân vác trong chợ. Các chị tranh nhau mời chào. Không biết họ sang đây hồi nào mà rành tiếng Miên thế? Ông khách đứng quan sát từng chị, so sánh chọn lựa một nhan sắc. Các chị ra vẻ tươi cười. Cũng vẫn những cái miệng này, mới đây đã phát ra những âm thanh cú diều với vợ tôi, bây giờ lại thốt những lời dịu dàng dễ thương chi lạ. Ông khách chỉ vào một chị. Chị vui vẻ liếng thoắng dẫn khách vào phía trong. Có lẽ đã từng là khách hàng đấm bóp nhiều lần, ông khách tự nhiên trút bỏ quần áo bên ngoài, chỉ còn độc cái quần xà lỏn màu đỏ chói, nằm sấp xuống chiếc chiếu trải sẵn trên nền xi măng.

Tôi hỏi một chị ngồi kế bên: “Sao không để người ta nằm trên giường?”
“Giường làm kiểng thôi. Nó lung lay như chiếc răng sắp rụng.” Chị nói.

Tôi lần vào phía trong, xem cách làm việc ra sao. Chị lau mồ hôi cho khách bằng chiếc khăn nhàu nát. Chiếc khăn đã từng lau cho hàng trăm người. Lau xong, chị xòe hai bàn tay chém lia lịa đều khắp trên lưng người khách. Những ngón tay va vào nhau, kêu lách chách.

Sau màn dần lưng, chị lên ngồi trên mông khách, đùi dang ra hai bên. Chị nhích tới nhích lui, bóp từ trên vai xuống tới thắt lưng. Khách có vẻ khoái, nằm nghiêng đầu qua một bên, mắt lim dim hưởng thụ. Dùng sức nhiều, trán chị lấm tấm mồ hôi, nhưng mặt tươi tắn yêu đời. Tiền. Chính mãnh lực đồng tiền đã biến đổi người đàn bà cáu gắt trở nên vui vẻ. Thỉnh thoảng chị ngừng tay, lau trán với chiếc khăn vẫn lau mồ hôi cho khách. Khoảng đôi phút, chị xoay qua màn khác. Chị dùng ngón trỏ và ngón cái, kẹp từng miếng thịt trên lưng khách kéo lên. Và bàn tay kia phạt ngang như nhát chém. Một hồi, lưng khách ửng đỏ trên làn da vốn đã sạm màu. Rồi chị xòe hai bàn tay chà xát thật mạnh dọc theo hai bên sống lưng. Sau đó, chị dùng mười đầu ngón tay kéo mảng thịt trên lưng khách. Mười ngón tay nhanh như những cái chân con rít, đùa mảng thịt thành gợn sóng chạy dài từ thắt lưng lên tận bả vai. Chị thụt về phía sau, chồm lên phía trước theo mỗi gợn thịt đùa từ dưới trở lên. Cái háng dạng ra, tới lui chà lết trên mông người đàn ông. Động tác làm tôi liên tưởng chuyện tục.

Bất ngờ chị hỏi: “Muốn học nghề để truyền cho vợ hả?”
Tôi lắc đầu cười gượng, và bỏ ra ngoài hành lang. Thà tôi gặm cỏ cạp đất mà ăn, chứ không để vợ làm cái nghề dị hợm này!

Chiều sắp tàn. Khách càng đông. Họ cần đấm bóp giác hơi để tìm chút thư giãn sau một ngày lao động chân tay vất vả. Phía trong không đủ chỗ, các chị trải chiếu ra tận ngoài hiên. Những ông khách cũng dễ tính, họ xoay trần nằm sấp trên hiên, kế bên lề đường có bao nhiêu người qua lại. Người đi đường cũng không tò mò dòm ngó. Họ đã quen mắt nên coi đấy là chuyện thường.

Các chị làm việc lăng xăng. Tôi kiên nhẫn chờ một chỗ tá túc qua đêm. Lại có dịp coi thêm màn giác hơi.
Giai đoạn này, chị đấm bóp không ngồi trên mông khách. Bộ đồ nghề là những cái lọ thủy tinh bầu tròn cỡ trái quít. Chị thắp ngọn đèn dầu nhỏ. Dùng cái que, một đầu có đính cục bông, nhúng vào lọ dầu, châm lửa. Chị cầm nghiêng cái lọ, thọc ngọn lửa vào quậy quậy, và rất nhanh, chị chụp xuống. Cái lọ hút dính vào lưng. Từ miệng lọ da thịt phù lên. Chị làm nhanh tay và thiện nghệ. Cứ thế, từng lọ, từng lọ được chụp xuống, trông như những chiếc bong bóng nổi đầy trên lưng khách. Chị để yên đấy, và khách cũng nằm im. Trong thời gian chờ đợi, chị ngồi hút thuốc. Chị giải thích, phải chờ cho máu bầm tụ lại, sau đó sẽ đánh tan đi. Làm thế, máu huyết lưu thông, sẽ hết nhức mỏi và tránh được bệnh thời khí cảm mạo thông thường. Tàn điếu thuốc, da thịt phù lên trong lọ cũng bầm tím. Chị cầm từng chiếc giựt ra, mỗi lần giựt kêu bốc một tiếng. Lưng khách bây giờ, nổi đầy những vết bầm hình tròn. Chị lau sơ, và thoa đều một lớp dầu mỏng cho trơn. Thoa dầu xong, chị chỉ dùng một cái ống giác, thọc ngọn lửa vào quậy, và chụp nhanh xuống lưng khách. Chị kéo cái ông giác chạy lên chạy xuống, đều khắp trên lưng. Đây cũng là giai đoạn chót của màn giác hơi. Xong, chị lau sạch lớp dầu lần cuối cùng, và vỗ nhẹ trên lưng khách vài cái, báo hiệu mọi việc đã hoàn tất. Khách đứng lên vươn vai, mặc lại quần áo. Trông khách khỏe ra, mặt mày tươi tỉnh.

Chiều tàn. Người trong khu chợ Ô Hòa Xây thưa dần. Các chị cuốn chiếu, thu dọn đồ nghề và mua cơm phần gói trong lá sen cho bữa ăn tối. Chúng tôi theo các chị về bằng xe Lambretta ba bánh. Ngồi trên xe, tôi nhắm mắt lại. Có cảm tưởng như mình đang lao vào cõi mông lung vô định với nhiều rủi ro bất trắc.

Các chị thuê phòng trên tầng lầu thứ tư của một chung cư. Chúng tôi lên lầu cùng lúc những ông chồng của các chị về tới. Mỗi ông xách theo một thùng nước, tay kia xách cục nước đá treo tòn ten bằng sợi dây. Nước đá được bỏ vào thau nước lã, dùng làm nước giải khát. Còn thùng nước, dành cho các chị tắm rửa.

Chồng của các chị làm phu khuân vác nơi chợ búa, hoặc các bến xe hàng. Tất cả, họ thuê chung một căn phòng rất rộng. Phòng được chia ra từng phần làm chỗ ngủ, diện tích vừa tấm chiếu, che bằng những tấm màn vải. Họ sống tạm bợ. Kể cả tình nghĩa vợ chồng cũng là sự gán ghép tạm bợ giữa đường. Bởi những người đàn bà đàn ông này, đều đã có gia đình ở quê nhà. Họ trôi giạt sang xứ người kiếm sống và ráp lại từng cặp, chẳng qua vì vấn đề âm dương phối hợp mà thôi.

Chủ nhà là một bà già người Miên, ít nói. Đôi mắt cú vọ nhìn người lom lom, thể hiện cái thói gian tham, xảo quyệt. Dù chúng tôi nằm dười sàn gạch, bà cũng bắt chẹt phải trả tiền một đêm. Nghe nói vào thời Pol Pot cầm quyền, những người dân thành phố, một số chạy trốn, một số khác bị giết, hoặc bị lùa đi các công nông trường. Họ đi không bao giờ về nữa. Dân cùng đinh khố rách khắp nơi tràn vào thành phố, chiếm lấy nhà cửa. Từ đó, thành sở hữu chủ luôn.

Buổi tối. Tôi xuống đường, tắm nơi vòi nước máy và xách lên một thùng cho vợ con. Vòi nước công cộng, một tay anh chị mặt rô tự đứng ra quản lý, phân phối và thu tiền bỏ túi. Ai dám phản đối? Thời buổi nhiễu nhương rối loạn. Luật pháp như cái cân hư. Xã hội xô bồ. Lưu manh ngự trị. Trời Phật không có chỗ đứng trong lòng người. Lòng dạ người nào cũng thủ sẵn một con dao. Họ vừa bảo vệ bản thân, vừa rình cơ hội đâm mũi nhọn vào người khác.

“Ở đây, thứ gì cũng trả tiền. Biết thế, ở lại cái nhà trọ thuê giường còn khỏe hơn.” Vợ tôi cằn nhằn.
Tôi nói: “Ai ngờ được những gì sẽ tới? Mình giống như nàng Kiều của Nguyễn Du. Cũng liều nhắm mắt đưa chân. Thử xem con tạo xoay vần đến đâu!”

Vợ nổi cáu: “Chết lên chết xuống không lo, còn thơ phú nữa? Dẹp ông Nguyễn Du đi. Hãy lo moi vàng ra mà sống.”

“Anh cũng muốn lôi nó ra, nhưng nó cứ nằm lì trong bụng. Biết làm sao?”
“Lúc nào anh cũng tâm niệm hai tiếng “đi cầu” thì nó ra thôi.”

“Đi cầu mà cũng tâm niệm?”
“Phải. Anh cứ tưởng tượng mình đang chột dạ mót đi cầu, cần tống khứ tất cả những gì trong bụng ra ngoài. Đến một lúc, anh sẽ tuôn ra hết ngay. Người ta gọi đó là tự kỷ ám thị”

“Khổ quá! Em điên rồi, nên nghĩ đủ điều như thế.”
“Không ám thị được, em sẽ cho anh một liều thuốc xổ.”

"Em ơi, anh đang mệt mỏi. Uống thuốc xổ hoài, mất sức làm sao chịu nổi?” Tôi nói như rên.
Vợ cương quyết: “Cũng phải chịu. Nếu đêm nay, nó không ra. Ngày mai, em mua thuốc xổ. Em cần vàng để xoay trở. Chỉ có vàng mới cứu nguy được trong lúc này.”

Tôi vào nhà cầu, lót tấm giấy bìa trên sàn, ngồi rặn và tự kỷ ám thị. Vàng ơi! Vàng ơi! Tôi gọi vàng và ám thị. Tâm trí lan man, nghĩ hận bọn thằng Nu. Vì mấy cây vàng, mà chúng nhẫn tâm xô vợ chồng tôi vào ngõ cụt.

Không biết oan gia nghiệp báo nợ nần nhau từ kiếp nào mà tai họa bám theo tôi như bóng với hình? Tôi được phóng sinh... Tôi nói phóng sinh thay vì phóng thích, mới bày tỏ hết ý nghĩa của những con người đang quằn quại trong cảnh âm ty. Vâng, tôi được phóng sinh ra khỏi trại tù, cũng chưa thoát nạn. Về quê, lại gặp chính quyền địa phương hà khắc. Họ chèn ép, bắt tôi đi làm thủy lợi liên miên. Gặp hồi mạt vận, vùng vẫy cách nào cũng không thoát. Đành cắn răng chịu đựng. Nín thở qua sông. Qua chưa hết con sông, lại nghe họ sắp đưa tôi đi gỡ mìn trên biên giới. Đã có nhiều người bỏ mạng vì công tác này rồi. Tôi biết họ muốn dồn tôi vào cửa tử. Không lẽ cúi đầu chờ chết? Tôi dẫn vợ con trốn ra miền Trung, tìm đường vượt biên. Từ đó, thiên la địa võng trùng trùng bủa vây. Chạy ngả nào cũng chạm mặt bất lương.

Đầu tiên, tôi quen một bà mệnh phụ tại Nha Trang. Bà tự giới thiệu, trong quá khứ bà là giáo sư của một trường nữ trung học ở Huế, và là vợ của một viên thiếu tá chế độ cũ, tù cải tạo chưa về. Tôi đặt niềm tin nơi người đàn bà mô phạm này. Bà nói, bà đã từng tổ chức đưa người vượt biên trót lọt. Tôi là người đồng cảnh ngộ với chồng bà, nên được đặc biệt ưu tiên, tận tình chiếu cố. Điều kiện vượt biên, không đưa vàng trước. Chỉ khi nào đặt chân lên ghe lớn, mới trao thư và mật mã để thân nhân căn cứ vào đó mà đưa vàng. Thời buổi củi quế gạo châu, con người lọc lừa phản trắc, khó tin tuyệt đối nơi một người nào. Điều kiện như thế, thật là sòng phẳng hợp lý. Để củng cố thêm niềm tin cho những kẻ sắp vượt trùng dương tìm đất mới, bà gọi bọn đàn em đến nhà, thắp đèn đốt nhang, cùng nhau thề nguyền trước bàn Phật. Phật đã chứng kiến. Con nào thằng nào dám lật lọng, trời tru đất diệt nó!

Một đêm tối trời, tại Hòn Khói. Tôi dẫn vợ con lên chiếc ghe nhỏ taxi, ra đảo hoang nằm chờ ghe lớn. Trên đảo đã có sẵn hơn ba chục người chờ đợi. Giữa trời nước bao la, ban đêm gió lạnh thổi ù ù. Mọi người nằm rúc vào nhau tìm hơi ấm. Ban ngày, trời nắng như thiêu đốt. Ngồi núp theo những hốc đá, hả họng mà đớp khí trời. Đã thế, còn thêm cái nạn bị muỗi và bù mắt đốt. Da thịt chân tay nổi mận sần sùi ngứa ngáy. Đám con nít không biết tại sao cha mẹ đem chúng ra chốn này để sấy khô, ướp lạnh. Chúng khóc la ỏm tỏi, đòi về. Khóc khan cổ họng, rồi cũng phải nín. Dưới cái nóng buổi trưa, chúng nằm thoi thóp, tội nghiệp.

Trong các hốc đá, nhóm tổ chức còn cẩn thận trữ sẵn gạo, muối, đường, cà phê. Nhiều người khen họ chuẩn bị chu đáo. Nhưng coi kỹ lại, không tìm đâu ra chiếc nồi để nấu. Đó là những vật dùng làm cảnh tạo niềm tin. Vật làm cảnh để đấy, thì muôn đời vẫn còn nguyên đấy thôi. Không ai dùng được.

Mỗi ngày, có chiếc ghe nhỏ đem cơm nước từ đất liền ra đảo. Mọi người nôn nóng nhao nhao hỏi thăm chừng nào ghe lớn đưa đi? Được trả lời rằng, chưa thuận tiện. Phải chờ. Chờ cho thời gian chín muồi đau khổ.

Một hôm, người đem cơm chỉ một chiếc thuyền xa xa, báo tin mừng: “ Con cá lớn sắp tới rồi. Bà con viết thư mau lên.”

Trong nỗi mừng vui quá đỗi, mọi người hấp tấp viết thư và ghi rõ mật mã cho thân nhân. Người đem cơm cũng sốt ruột không kém, anh ta thúc hối từng người, nhanh chóng thu gom tất cả thư từ. Sau khi kiểm đủ số thư, anh cho biết cần chạy ra liên lạc với con cá lớn. Mọi người vất bỏ những thứ lỉnh kỉnh không cần thiết, thu gọn đồ đạc, nhấp nhỏm ngồi chờ. Bao nhiêu mệt nhọc trong những ngày qua, phút chốc đều tan theo sóng biển. Con cá lớn sẽ đưa ta về miền đất hứa. Ôi, ba tiếng “con cá lớn” thân yêu biết dường nào! Ta mong đợi ngươi từ lâu lắm. Nhưng, sao lạ vậy? Hình ảnh con cá lớn càng lúc càng xa mù, mất hút giữa trùng dương xanh ngắt. Còn chiếc ghe nhỏ hướng mũi về đất liền, cũng biệt tăm luôn. Mọi người chưng hửng nhìn nhau, chưa tìm ra câu giải đáp. Lúc sau, chừng như thấm ý, có bà bật khóc. Rồi như một cái dịch truyền nhiễm, các bà khóc theo. Các ông văng tục chửi thề loạn xà ngầu. Tiếng khóc, tiếng chửi theo gió biển bay đi, không để lại một âm vọng nào.

Trưa hôm sau. Một người đàn ông khác, lái chiếc ghe nhỏ đem cơm nước ra đảo. Mọi người bu lại như muốn phanh thây xẻ thịt anh ta.

Anh kêu gọi: “Xin bà con bình tĩnh..., bình tĩnh...” Chờ cho mọi người bớt cơn thịnh nộ, anh giải thích. “Rất lấy làm tiếc, ghe lớn bị động, không thể rời bến như dự định.”

Có người hỏi: “Vậy, chừng nào rời bến được?”
“Hiện thời, công an đang theo dõi, chưa dám nhúc nhích. Không thể nói chắc thời gian.”

“Chúng tôi ở đây, anh giải quyết thế nào?”
“Bà con chịu khó nằm chờ. Ai không muốn chờ, có thể theo ghe nhỏ trở về. Khi nào có chuyến, chúng tôi sẽ thông báo ra đi lần nữa.”

Nghĩ đến những ngày chịu đựng vừa qua, mọi người ngán ngẩm. Tất cả đều muốn đi về, chờ đợi chuyến sau.
Tôi về đến nhà người em, vào lúc nửa đêm.

Em tôi ngạc nhiên: “Ủa? Sao anh trở lại?”
Tôi mệt mỏi: “Có đi đâu mà trở lại?”

“Tối hôm qua, bà Thiếu Tá đến trao thư, và thông báo anh đã lên ghe bình yên. Em coi thư, đúng là mật mã và chữ viết của anh. Em trao vàng cho bà rồi.”

Tôi sực tỉnh, giậm chân kêu trời không thấu. Biết gặp phải lưu manh cướp cạn, năm lần bảy lượt tôi đến nhà bà Thiếu tT, đòi lại sáu cây vàng. Nhưng bà luôn luôn đi vắng.

Một hôm, tình cờ gặp bà trên phố. Tôi lớn tiếng đòi bà phải trả lại vàng.
Bà bảo: “Vàng đã chia năm xẻ bảy rồi. Không thể gom lại được. Ông chờ gọi đi chuyến sau. Tôi khuyên ông đừng nên làm rùm beng. Công an biết được, nó còng đầu cả lũ.”

Tôi về, thuật cho vợ nghe trường hợp gặp bà Thiếu Tá.
Vợ nóng mặt: “Tố cáo bả và đồng bọn.”
Tôi giải thích: “Tố cáo bả và đồng bọn lường gạt, thuộc tội hình sự, chỉ bị tù vài tháng. Còn mình vượt biên, bị khép tội phản quốc, thuộc tội chính trị. Tội chính trị ở tù nhẹ lắm cũng vài năm.”

Vợ uất hận, gầm lên: “Tức chết... đi!”
Tôi nói: “Tức cũng phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Chẳng lẽ mất vàng, còn lao đầu vô tù?”

Chúng tôi ở lại Nha Trang, nơi nhà người em trong sự lo âu hồi hộp.
Em tôi trấn an: “Anh yên tâm. Láng giềng của em đều có gốc gác thuộc thành phần chế độ cũ. Toàn là phe ta cả.”
Tôi bị bà Thiếu tá “phe ta”, nữ giáo sư trường Đồng Khánh chơi cho một vố đau như bò đá. Bây giờ, nghe nói “phe ta”, tự nhiên tôi có ác cảm. Thiên hạ đua nhau bợ đít “cách mạng”, theo thời xu thế. Gió thổi cỏ rạp. Tiểu nhân cúi đầu. Loại người mang tâm địa hèn mạt sẵn sàng bán đứng “phe ta”, đổi lấy một chút quyền lợi nhỏ nhoi nào đó. Những năm trong tù, cho tôi nhiều kinh nghiệm đắng cay. “Phe ta” lẻ tẻ vài anh trở mặt. Họ như những con dòi cựa quậy ngoi lên trong nỗi khốn cùng của anh em. Nịnh nọt dựa hơi “cách mạng”. Hành hạ chà đạp “phe ta” không thương tiếc. Họ lấy sự vùi dập người khác làm sự sống còn của mình. Những khuôn mặt bẩn thỉu lem luốc đó, ra khỏi tù, tôi còn gặp lại họ ngoài đời. Họ giỏi luồn lách, và mau chóng thích nghi với chế độ mới. Làm người, nhưng họ mang bản năng của loài tắc kè, đổi màu da theo cảnh sắc.

Những người láng giềng của em tôi lịch sự và tử tế. Họ tỏ ra thân thiện với tôi như đã cảm thông nhau từ lâu lắm. Tôi nghi ngờ, nên cố giấu thân phận mình. Nhưng con mắt của “phe ta” rất tinh đời. Họ biết tất cả.
Một buổi tối. Bất ngờ công an ập vào nhà, lục soát và xét giấy tờ của tôi.

Công an hỏi: “Anh đến đây làm gì?”
Tôi nói: “Tìm việc làm.”

“Sao không làm việc ở quê anh?”
“Quê tôi không có việc gì cho tôi cả.”

“Anh đi, không có phép của chính quyền địa phương. Anh ở, cũng không thông báo cho chúng tôi biết. Tại sao?”
“Tôi tạm trú, chờ tìm được việc, sẽ xin phép các anh cho ở đây. Nếu không tìm được việc, tôi về quê cũ”

“Láo. Chúng tôi biết anh đang tìm đường vượt biên. Cho anh thời hạn một tuần chuẩn bị rời Nha Trang. Hàng ngày, anh phải lên phường trình diện với chúng tôi, cho đến ngày đi khỏi.”

Trong số những công an xét hỏi, có một gã còn trẻ. Gã này đang theo đuổi tán tỉnh cháu gái tôi. Khi công an ra cửa, gã cố ý đi chậm lại đàng sau, nói nhỏ với cháu tôi.

“Người ta tố chú vượt biên, nhưng không tìm ra bằng chứng. Chú đang bị theo dõi.”

“Người ta” mà gã công an nói, là ai đây? Điểm trúng vào tử huyệt của ta, là người hiểu ta. “Kẻ thù ngồi sau lưng bệ hạ đấy!” Trên đường bôn tẩu, An Dương Vương được rùa thần báo như thế.

Bị tống xuất khỏi Nha Trang, tôi về Sài Gòn tìm đến những bà con thân thuộc. Tất cả đều thờ ơ lạnh nhạt. Trong khánh tận nỗi đời, nhìn rõ mặt trắng đen. Nhắc câu thân tình ân nghĩa cũ, dễ làm người ta khó chịu như coi tên hề diễu dở. Không bám víu vào đâu được, tôi như con chim run sợ trước cơn giông thời cuộc. Thấy công an như thấy bóng hung thần. Sứ giả của chế độ mới, đến đâu là gieo rắc điềm dữ đến đấy. Trong lao đao hốt hoảng, tôi chạy trốn theo đường dây vượt biên lên Kampuchia. Và tại đây, tôi sa vào bẫy của thằng Nu. Sa bẫy thêm lần này, chúng tôi thành trắng tay.
Chỉ còn hy vọng vào chiếc khâu vàng, nhưng không biết nó còn trong bụng, hay đã lọt đi đàng nào?
Ngồi trong nhà cầu, tôi ám thị và gọi mãi vàng ơi vàng ơi, trong niềm đau nhức.

“Ra chưa anh?” Vợ hỏi vọng vào.
Tôi nói: “Chưa thấy gì.”

“Ngồi ráng thêm chút nữa coi sao.”
“Ráng vô ích. Cho anh liều thuốc xổ thôi.” Tôi đi ra ngoài.

Vợ nhìn mặt: “Mấy hôm nay, trông anh hốc hác nhiều. Uống thuốc xổ cũng tội, nhưng không còn cách gì khác.”
Buổi tối, trong gian phòng rộng lớn. Mọi người ngồi dựa lưng vào vách tường, tán gẫu đủ thứ chuyện. Qua câu chuyện, tôi biết có một chị, sáng mai sẽ về Việt Nam thăm gia đình. Những món quà chị sắm cho chồng con, đặc biệt có chiếc quần Jean sờn gối. Chị nói, chồng chị sẽ rất thích chiếc quần này, dân chơi đúng điệu chỉ mặc quần Jean bạc màu sờn rách. Chị ngồi dựa lưng vào lòng anh chồng hờ. Anh cũng âu yếm vòng tay ôm khít lấy chị. Họ tận dụng những giờ phút còn gần gũi bên nhau. Tất cả những người khác coi thế là tự nhiên, nhưng vợ tôi ngượng.

“Kỳ!” Vợ nói nhỏ.
Tôi bảo: “Kệ người ta.”

Đến giờ ngủ, những tấm màn vải được kéo ra, ngăn làm nhiều phòng nhỏ sát chân tường. Còn lại khoảng trống giữa phòng, tôi trải tấm chiếu cho vợ chồng tôi và đứa con.

Đèn tắt, nhưng phòng còn có ánh sáng do ngọn đèn đường hắt vào. Chung quanh chỗ tôi nằm, từng cặp nói chuyện thầm thì, cười khúc khích. Một hồi sau, nổi lên những tiếng động dâm dật. Họ không cần khẽ khàng, dè chừng ai nữa. Cặp nào cũng như nhau, coi đó là điều tự nhiên. Mục đích gán ghép vợ chồng tạm bợ của họ, cũng chỉ vì chuyện ấy mà thôi. Chúng tôi bị bao vây bởi những âm thanh đầy kích thích.

Tôi cố dỗ giấc, và lãng quên. Nhưng cái lỗ tai bây giờ quá thính. Tôi nghe rõ cả hơi thở dồn dập của họ, sát bên. Trong đầu tôi hiện ra hình ảnh và động tác...
Con tôi, sau những ngày vất vả, buông mình xuống là ngủ khì. Vợ tôi nằm lặng, không biết thức hay ngủ? Tôi khẽ trở mình, đưa tay khều thử.

Vợ hất tay: “Đừng.”
“Ngủ chưa?”
“Hứ!”

Tôi cười thầm. Vợ tôi đang chú ý cái âm thanh gợi dục này, còn hơn tôi nữa.

Sau một chặp đầu hôm, mọi người đi vào giấc ngủ. Tôi vẫn trăn trở lo lắng buồn rầu cho một ngày mai. Nửa khuya, tôi nghe có sự cựa quậy nơi vị trí của người đàn bà sắp về Việt Nam. Tiếng động dâm dật lại nổi lên. Anh chị cố vớt vát thêm thú vui dục lạc, bù lại những ngày sắp xa nhau. Về thăm chồng lần này, nếu chị mang thai, đứa bé ra đời, dĩ nhiên chồng chị chịu trách nhiệm. Nhưng nó là con ai, chỉ có chị biết mà thôi. Khi tiết trinh là điều xa xỉ, loạn dâm là chuyện bình thường thì loài người đồng hóa với súc sinh. Sáng ra, tôi nói với vợ ý nghĩ này.

Vợ nguýt dài: “Khéo lo chuyện tầm phào.”
Tôi cười cười: “Đêm rồi ngủ ngon không?”

“Đừng hỏi báp láp. Ông ham lắm!”
“Ham gì?”

“Chuyện đó.”
“Chuyện đó, ai không ham? Em cũng vậy.”

“Không có tôi đâu. Đừng nói chuyện đó nữa. Bây giờ, ông vào nhà cầu rặn chiếc khâu cho tôi. Nếu nó ra, tôi khỏi tốn tiền mua thuốc xổ.”
“Lúc nào em cũng nghĩ đến chiếc khâu!”
“Chứ sao? Thiếu nó thì còn làm ăn gì được?”

Vợ chưa mua thuốc xổ. Tôi bắt lại được khâu vàng, sau một tuần lẩn trốn trong bụng. Một chị đấm bóp tình nguyện dẫn chúng tôi đi bán vàng. Dĩ nhiên, sự cám ơn phải thể hiện bằng tiền. Chị lại hướng dẫn chúng tôi ra vùng ngoại ô thành phố, mướn một căn lều bằng lá. Một căn lều theo đúng nghĩa đích thực của nó, nhưng chúng tôi gọi là căn nhà cho đỡ tủi thân. Mái nhà lợp bằng lá mía, chung quanh che chắn bằng liếp tre đan thưa thớt. Chiều sâu căn nhà quá ngắn, nhưng chiều ngang lại quá dài. Nghe nói, trước đây người chủ của nó dùng làm chuồng nuôi gà công nghiệp. Nhưng gà chết toi nhiều quá, nên dẹp luôn. Chuồng bỏ trống. Phía sau nhà còn chất đầy những chiếc lồng gà cũ. Có được một chỗ trú mưa che nắng là tốt rồi. Tôi ra sức quét dọn tẩy uế cả ngày, trông cũng mát mắt. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc tạo điều kiện đời sống. Mua chăn màn nơi sạp bán đồ cũ. Mua chén dĩa, vài cái nồi nấu ăn, thêm chiếc nồi lớn dùng hấp xôi. Vợ tôi chọn nghề bán xôi làm kế sinh nhai. Cái nghề ít vốn, thích hợp với hoàn cảnh, tiện lợi cho việc ăn uống. Xôi bán không hết, vợ chồng con cái ăn xôi trừ cơm. Đỡ phí của trời!

Sáng sớm. Tôi gánh xôi vào thành phố. Vợ ngồi bên lề bán cho khách qua đường. Người mua kẻ bán nói với nhau bằng ngôn ngữ đôi tay. Miệng ú ớ không nên lời. Đôi khi ngớ ngẩn đến buồn cười. Mấy ngày sau, tôi nghĩ ra một sáng kiến. Nhờ người viết tấm bảng bảng liệt kê giá cả bằng tiếng Miên. Gói nhỏ một đồng. Gói vừa hai đồng. Gói lớn ba đồng. Người mua giơ ngón tay chỉ vào một trong ba hàng chữ ấy. Dễ dàng cho cả đôi bên. Con tôi cũng tích cực góp phần vào sinh kế. Nó bưng cái mâm có những nắm xôi đã gói sẵn, bán dạo theo các tiệm cà phê. Nó biết nở nụ cười mời khách. Có người không muốn ăn xôi, nhưng thấy nó lí nhí nói cái thứ tiếng chẳng ai nghe được và cười hoài, người ta cũng mua. Mặt nó vui hẳn lên, mỗi lần bán được gói xôi. Mười hai tuổi, lăn vào chốn mưu sinh, nó hiểu thế nào là giá trị của những đồng tiền. Còn tôi, đứng xớ rớ không biết làm gì. Lòng bứt rứt không yên. Tôi lang thang tới bến xe đò, xin làm phu khuân vác. Ở ngoài nhìn vào, cứ tưởng vai u thịt bắp là được việc. Nhưng không. Còn một điều kiện khác nữa, và đây mới là điều kiện cần thiết. Muốn có việc, phải giành mối. Trên đường đời, tôi thiếu bon chen, tay chân cò vạc lại vụng về xốc vác, nên chẳng ai thèm mướn.

Chiều về, tôi nằm trên chiếc võng đưa qua đưa lại, buồn bã rời rã. Nhìn vợ con lu bu chuẩn bị cho nồi xôi ngày mai, tôi thấy rõ ràng mình đang sống bám trên hai chiếc lưng gầy gò yếu đuối. Giận mình bất tài vô tướng. Buồn giận quá, đâm ra quẫn trí. Tôi thù bọn chính quyền của quê tôi, thù bà thiếu tá giáo sư ở Nha Trang, thù bọn thằng Nu ở Miên. Từ đó, tôi ghét lây đến cả người đời. Sau những bản mặt hiền từ, họ còn giấu biết bao điều tàn ác bất lương. Những kẻ giả danh, mặt người dạ thú. Trong uất hận, tôi tưởng tượng mình có đủ quyền uy để làm như một Néron ngồi uống rượu, xem lửa đốt thành La Mã. Hay một Tần Thủy Hoàng lùa thiên hạ xuống hầm sâu chôn sống.

Tính tình tôi trở nên bẳn gắt. Con tôi sợ hãi người cha lầm lì dữ tợn. Nó đâu biết trong sâu thẳm cõi lòng, tôi thương và tội nghiệp nó đến nhàu nát ruột gan. Hoàn cảnh khó khăn, nó không được đến trường. Đêm đêm, dưới ngọn đèn dầu, tôi dạy nó về những kiến thức nhà trường. Cố nhồi nhét vô đầu nó những con số toán học. Nó quờ quạng với những ẩn số x, y. Tôi cú đầu nó, và la hét ầm lên. Nó hoảng. Càng hoảng, càng không lãnh hội được gì.

Vợ nói: “Anh dạy học với thái độ của nhân viên phòng tra tấn.”

Nghĩ lại, tôi thấy mình quá nóng tính. Tôi không thể làm thầy, dù là thầy của con mình. Tôi tuyên bố không làm gia sư nữa. Con tôi mừng.

Vợ lại nói: “Suy nghĩ nhiều, coi chừng điên đấy. Phải làm việc gì cho khuây khỏa.”
“Việc gì? Khuân vác cũng không ai mướn.”

“Không làm mướn cho ai cả. Anh đủ sức vác bao bánh mì không?”
“Dư sức.”

“Được rồi. Anh vác bao bánh mì đi bán dạo theo các xe đò đậu dài dài trên đường Thu Mút, gần chỗ em bán xôi.”
“Em có lý. Xôi bán ế, ăn hoài nhợn lên tới cổ họng. Bây giờ thêm bánh mì ế nữa. Mình có thể thay đổi món ăn. Một bữa ăn bánh mì, một bữa ăn xôi.”

Thế là từ đó trở đi, tôi làm người bán bánh mì dạo. Sau khi gánh xôi vào thành phố cho vợ ngồi bán, tôi lội bộ ba cây số tới lò bánh mì, vác một bao trở lại đường Thu Mút. Tôi rảo theo những chiếc xe đò, cầm ổ bánh mì chìa ra trước mặt khách trên xe. Tôi mời họ mua, bằng cách kêu “bòn, bòn”, và gật gật cái đầu.

Ngày đầu tiên, bán được nửa bao bánh mì. Còn nửa bao, tôi vác về. Vợ chồng con cái ngồi ăn bánh mì, cười hỉ hả.

Con tôi nói: “Ăn bánh mì chấm nước mắm, ngon hơn ăn xôi với đường.”
Tôi hỏi: “Con chịu ăn hoài như thế này không?”
“Con chịu. Nếu cho con thêm chút thịt thì ngon hơn.”

Câu nói của con làm lòng tôi đau nhói. Nó cần thịt, nhưng từ lâu chúng tôi đâu dám tốn kém vì loại thực phẩm cao cấp này.

Buổi tối, tôi nói với vợ, dù buôn bán được hay không cũng mua cho con miếng thịt. Vợ nói, đã nghĩ điều đó rồi.
Hôm sau, tôi vác nửa bao bánh mì cũ đi bán nữa. Khách cầm ổ bánh bóp thử, rồi trả về. Tôi cố gỡ gạc tiền vốn, chỉ bán hai phần ba giá, nhưng người ta cũng từ chối. Không ai chịu mua một ổ bánh mì cứng đơ như khúc củi.
Hôm ấy, nửa bao bánh mì cũ còn nguyên. Tôi muốn bỏ nghề.

Vợ khuyên: “Mới thua keo đầu, không đáng ngại. Thử thời vận thêm vài bữa xem sao?”
“Ừ, thì thử. Nhưng cái vốn của mình, đủ sức bù lỗ không?”
“Em còn đủ sức chịu lỗ mười ngày như thế. Hồi còn ở Việt Nam, có người chỉ cho em cách làm bánh mì cũ, trở thành bánh mì nóng giòn. Em sẽ thử.”

Trong khi chúng tôi bàn chuyện, con tôi ăn bánh mì cũ với thịt heo ram mặn.
Nó nói: “Thịt heo Kampuchia, ngon hơn thịt heo xứ mình.”

Tôi hiểu ngay rằng, vì quá thiếu thốn mà nó thấy ngon đó thôi.

Những ngày sau, tôi tiếp tục đi bán bánh mì. Công việc quen dần, tôi rút được nhiều kinh nghiệm mời khách. Làm ăn có khá hơn. Tuy thế, ngày nào cũng còn dư bánh mì đem về. Vợ tôi thoa nhẹ một lớp nước mỏng lên ổ bánh, và ủ qua đêm trong cái bao nylon. Buổi sáng, đem ra hơ trên lửa than. Bánh mì cũ lại trở thành bánh mì nóng giòn!

Chuyện buôn bán cũng đủ cho gia đình sống lây lất qua ngày. Dù vất vả nhưng không bi thảm như lúc đầu. Đêm, tôi nằm hút thuốc trên chiếc võng đưa cọt kẹt. Vợ con tôi lo hấp xôi. Con tôi ríu rít kể chuyện. Có người ăn một lần đến ba gói xôi. Có người ăn xong, còn mua vài gói đem về nhà. Cũng có người chỉ ăn nửa gói, còn nửa gói chê dở, trả và đòi tiền lại.

“Rồi con có trả lại tiền không?” Vợ tôi hỏi.
Nó cười: “Không. Con bỏ chạy.”

Vợ nói: “Lần sau, nếu gặp người như thế nữa, con trả lại tiền cho người ta.”
“Nhưng họ ăn hết nửa gói rồi.”
“Thì trả lại tiền nửa gói.”

Nó vẫn cương quyết: “Không trả. Gói xôi ăn lỡ dở, thì còn bán cho ai được nữa?”
Trong câu chuyện, thường nó khoe học được nhiều tiếng Miên. Nó dạy cho vợ chồng tôi đếm số. Và điều này, cũng cần thiết cho chúng tôi trong giao dịch buôn bán hằng ngày. Không khí gia đình tương đối dễ thở, nhưng láng giềng có điều rắc rối.

Xóm nhà lá tôi ở, toàn là gia đình nghèo người Miên. Cuối xóm, có một nhà người Việt, nhưng tôi cũng không gần gũi tiếp xúc. Qua bao nhiêu cạm bẫy cung ná, tôi nghi ngờ sự thân thiện của người đời. Chúng tôi sống âm thầm khép kín. Tránh động chạm làm mất lòng những người chung quanh. Tuy thế, một hôm bà Miên gần nhà, chỉ trỏ qua nhà tôi và la ầm lên. Tôi đứng bên này cười, dù không hiểu lý do. Nụ cười không đúng lúc, bà tưởng tôi khiêu khích. Bà gầm thét, ném khúc gỗ sang tôi. Tôi né tránh, không phản ứng. Loại người vô giáo dục, thường rất đanh đá chanh chua.
Lúc đó, có anh người Việt nhà cuối xóm đi ngang, thấy vậy đứng lại nhìn. Tôi nhờ anh ta hỏi xem bà có chuyện gì? Sau khi hỏi, anh cho biết bả chửi vì tôi quăng cứt qua nhà bả.

Tôi nói: “Tôi không làm chuyện dơ bẩn đó.”

Bà Miên không tin, cho rằng chỉ có thằng Việt Nam xấu xa mới chơi kiểu mất dạy như thế. Bà còn dọa, coi chừng bà đốt nhà tôi.

Sau hôm ấy, hai nhà hai bên quét rác đùa qua sân nhà tôi. Hành vi kiếm cớ gây sự. Tôi chẳng nói gì. Trò bỉ ổi tiếp diễn mỗi ngày. Cái sân thành nơi đổ rác. Kệ mẹ nó! Nói tới nói lui, ngôn ngữ bất đồng dễ thành lớn chuyện. Im lặng là một cách tỏ lòng khinh bỉ. Tôi cũng đâu cần ăn đời ở kiếp nơi cái xóm nhà lá khốn nạn này. Lúc nào đầu óc tôi cũng nghĩ chuyện ra đi. Tôi như co chim chỉ đậu tạm qua đêm. Rồi bình minh sẽ đến, và tôi sẽ bay đi thật xa.

Mỗi ngày, tôi lội bộ đi và về sáu cây số để lấy bánh mì từ lò nướng. Vợ tôi bàn, nên sắm chiếc xe đạp, giúp đôi chân đỡ mỏi đường xa. Tôi mua chiếc xe cũ trành, với giá rẻ mạt. Xe không thắng, không chuông, không đèn, không vè. Chiếc xe trần trụi đơn sơ đến mức, nếu bỏ bớt một bộ phận nào đó, thì không chạy được. Chẳng ai động động lòng tham với chiếc xe thổ tả này, tôi nghĩ thế. Tôi thường dựng xe nơi góc phố. Đúng năm ngày sau, chiếc xe bị cuỗm mất. Đây cũng là bài học dạy cho tôi biết rằng, bản chất con người là tham ác gian manh. Họ không từ nan bất cứ một thứ gì. Kể cả những vật nhỏ nhoi như cây kim sợi chỉ, cũng dấy lên trong đầu họ ý muốn chiếm đoạt. Từ nghìn xưa, Phật và Chúa đã biết thế, nên chiêu dụ con người ăn ở hiền lành thì được lên Niết Bàn của Phật, hay Thiên Đàng của Chúa. Nhưng người đời thực tế lắm. Họ không thả mồi bắt bóng. Niết Bàn hay Thiên Đàng là ảo ảnh. Của cải trên thế gian là hiện thực. Chiếc xe đạp trành của tôi, dù không béo bở, nhưng rõ ràng nó là một miếng mồi hiện thực, có thể nhá được. Đừng ai đem địa ngục kinh khiếp mà dọa chúng sinh. Ngay chốn trần gian này, đã là địa ngục rồi. Có ai sợ đâu?

Những ngày bán bánh mì, tôi quen một cô tên Nga. Tôi gặp lần đầu khi cô đáp chuyến xe đò từ Krong Kaoh Kong về Phnom Penh. Cô bước xuống đường Thu Mút trong cái dáng vẻ của một cô gái bụi đời. Hút thuốc và ngồi quán uống cà phê. Cô mua bánh mì, ăn kèm với bò kho. Thấy tôi là người Việt, cô bắt chuyện làm quen. Vài lần như thế, đôi bên tỏ ra thiện cảm. Cô cho biết đã sống bốn năm trên xứ Chùa Tháp. Quê cô ở Bến Tre. Năm hai mươi tuổi, cô có người yêu đi Bộ Đội, đóng quân trên đất Kampuchia. Cô lên đây tìm người yêu, nhưng anh đã chết tan xác trong một cuộc phục kích bằng mìn của quân Khmer Đỏ. Đau buồn không muốn trở về quê cũ, cô sống lang thang nương tựa vào các trại quân Việt Nam. Tôi hiểu ngay rằng cô đang làm gái điếm. Năm nay, cô hai mươi bốn tuổi. Bốn năm lăn lóc bụi đời, cô già đi trước tuổi. Tôi cũng nói với cô về chuyện gia đình làm ăn sinh sống. Cô ngỏ ý muốn thăm vợ con tôi. Tôi dẫn về nhà, giới thiệu vợ con. Từ đó trở đi, đôi bên thành chỗ thân quen. Mỗi lần về Phnom Penh, cô ngủ lại nhà tôi.

Có lần cô nói: “Em xin kết nghĩa làm em nuôi của anh chị.”
Tôi hỏi đùa: “Ai sẽ nuôi ai?”
Cô cười: “Anh chị nuôi em.”

“Nhà anh chỉ có xôi và bánh mì.”
“Hai thứ đó cũng đủ no rồi.”

Buổi tối, vợ tôi thì thầm: “Giai đoạn đầu, làm em nuôi. Giai đoạn sau, làm vợ nhỏ.”
Tôi nạt: “Nghĩ bậy!”
“Anh sắp ló đuôi rồi đấy.”

“Đuôi gì?”
“Đuôi dê.”

“Anh coi nó như em.”
“Lằn ranh anh em kết nghĩa mỏng manh lắm. Nhích tới một bước, em nuôi biến thành vợ nhỏ.”

“Ghen hả?”
“Tôi mà thèm ghen với con đĩ ngựa ấy à?”

“Ô hay! Sao mạt sát người ta? Nếu em không thích, anh bảo nó đừng đến đây nữa.”
“Hứ! Để coi hai người sẽ tiến đến đâu.”

Dù thế, bề ngoài vợ tôi không tỏ vẻ gì để cô Nga biết được ý nghĩ của mình. Tôi cũng không hề bảo cô đừng đến nữa. Cô coi gia đình tôi là chỗ thân tình. Lâu dần, cô hiểu rõ hoàn cảnh và lý do chúng tôi có mặt trên đất Kampuchia.

Một buổi trưa. Tôi đang nằm trên võng. Vợ con tôi đi chợ mua nếp và lá sen dùng cho việc bán xôi. Có gã Bộ Đội Việt Nam mang quân hàm thượng úy xuất hiện đột ngột trước ngưỡng cửa.

Gã hỏi: “Có phải anh tên Trần Văn Năm?”
Tôi tái mặt. Có chuyện gì đây? Đối với tôi, người của chính quyền Việt Nam được coi như sứ giả của điềm báo tai ương.
“Vâng. Tôi là Trần Văn Năm.”

Khi giao tiếp với mọi người, tôi tự đặt cho mình một cái tên giả. Nhưng sao gã Bộ Đội này biết? Gã tìm tôi có chuyện gì? Và biết gì về thân thế tôi? Nếu gã phát giác ra tôi đang cư ngụ bất hợp pháp, rắc rối sẽ không nhỏ. Tôi chưa kịp mời, gã đã vào nhà kéo ghế ngồi. Gã là khách, nhưng thái độ và cử chỉ hoàn toàn chủ động. Tôi trở nên lúng túng thụ động trước một đối tượng mà tôi rất ngại phải gặp mặt.

Tôi miễn cưỡng tiếp người lạ bằng chén nước lã: “Xin lỗi, nhà tôi không có sẵn nước trà.”
Gã khoát tay: “Được rồi.”

Tôi ngồi bối rối.
Gã tra vấn: ”Anh lên Kampuchia làm gì?”
“Bán bánh mì.”

Gã cười nhạt: “Thật không?”
“Nếu không tin, anh có thể hỏi những người Miên chung quanh đây. Họ biết việc làm của vợ chồng tôi.”

“Ở Việt Nam anh làm nghề gì?”
“Thợ mộc.”

“Cách Mạng vào Miền Nam, anh có đi cải tạo không?”
“Không. Chính sách của Cách Mạng không bắt những người dân như tôi đi cải tạo.”

Gã lắc đầu: “Tôi muốn nói chuyện với anh trong tinh thần hiểu biết và thành thật, nhưng anh chối quanh. Anh biết cô Nga không?”
“Biết.”

Gã nhắc tên cô Nga làm tôi giật mình.
“Cô là gì của anh?”
“Em nuôi.”

“Cô Nga nói, anh là sĩ quan Ngụy. Đi cải tạo, được Cách Mạng tha về. Trốn đi vượt biên, và bị người ta giựt hết vàng. Có đúng không nào?”

Thôi rồi. Bể chuyện hết rồi. Tôi hoảng sợ, ngồi im. Có lẽ, mặt tôi cắt không còn giọt máu. Thầm rủa con Nga khốn nạn. Nó lợi dụng sự thân mật của gia đình tôi để điều tra và tố cáo.

Gã tiếp: “Tôi đến đây là muốn giúp anh.”
Gã giúp được gì cho tôi? Muốn bắt bớ hay lường gạt? Gã lầm. Tôi chẳng còn của cải gì cho gã giở trò lưu manh lường gạt.
“Anh vượt biên là hành động trốn chạy. Tôi giúp phương tiện cho anh chạy. Nếu ở lại hoạt động chống đối, tôi bắt anh.”

Tôi ngồi nghe, không dám tin, không dám có ý kiến.
“Tôi đóng quân ở Tân Hao. Về đây công tác, sẵn dịp ghé lại nói chuyện cùng anh. Tôi có quen với một thằng chủ ghe người Miên. Hắn thường chở người vượt biên. Tôi là người cho hắn mượn súng đề phòng bọn cướp biển Thái Lan. Chuyến nào cũng trót lọt an toàn. Khi có dịp, tôi sẽ dẫn hắn đến đây để hai người trực tiếp nói chuyện với nhau.”

Tôi dè dặt: “Cô Nga đã nói về tôi, chắc cũng đã cho anh biết, tôi không còn vàng để vượt biên.”
“Vì thế mà tôi muốn anh gặp hắn để bàn xem có cách nào giúp được anh.”
“Tôi bỏ ý định vượt biên rồi. Hiện tại, chỉ lo làm nuôi vợ con.”

Gã cau mặt: “Cô Nga năn nỉ tôi giúp anh, nhưng anh nghi ngờ mãi.”
“Xin đừng gài bẫy tôi, tội nghiệp.”

“Muốn bắt anh lúc nào chả được. Gài bẫy làm đếch gì.”
“Tôi sẽ hỏi lại cô Nga, về chuyện này.”

Gã đến đột ngột như muốn áp đảo tinh thần tôi. Và ngồi chưa nóng đít, đã thoắt đi như một cơn dông. Thái độ kỳ lạ của gã làm tôi hoang mang, nửa tin nửa ngờ. Mong gặp cô Nga để hỏi về gã sĩ quan bộ đội. Nhưng cô như cánh chim phiêu bạt, biết đâu mà tìm?

Cô Nga về lại Phnom Penh, khi gia đình tôi đang ăn cơm chiều. Lần nào về, cô cũng mang theo món gì đó để ăn với chúng tôi. Tôi nghĩ, cô chịu đựng sự dày vò thân xác để mua món ăn đem đến. Đã mấy lần, tôi bảo cô không nên mua gì cả. Cô chỉ ậm ờ, rồi vẫn làm như những lần trước.

Vợ tôi nói: “Em về đây, đừng phí tiền mua món này món kia. Chị ngại lắm.”
Cô cười: “Không tốn kém bao nhiêu. Em góp phần cho vui.”

Khi nói chuyện, cô thường nở nụ cười rất tươi. Vì thế mà nhiều thằng mê cô chăng?
Sau bữa cơm, tôi chờ cô nói về gã Bộ Đội, nhưng cô cứ lờ đi.

Cuối cùng, tôi mở lời: “Hôm trước có một thượng úy đến nhà anh...”
“Ồ! Hắn đến rồi hả? Có nói gì không?”

Tôi hỏi lại: “Em đã nói gì với hắn?”
Cô gọi vợ tôi cùng ngồi: “Em quen với gã thượng úy này lâu rồi. Hắn có nhiều tiền. Em thắc mắc, với đồng lương chết đói của bộ đội, hắn lấy tiền đâu ra mà nhiều thế? Hắn kể rằng hắn bán bãi cho những tổ chức vượt biên. Nghe chuyện vượt biên, em nghĩ ngay đến anh chị. Em kể cho hắn về những khó khăn hiện tại của anh chị, và yêu cầu hắn giúp đỡ. Hắn đòi điều kiện. Em bảo, thân xác em chính là điều kiện của hắn.”

“Sao em tự hy sinh mình như thế?” Vợ tôi ái ngại.
Cô nói: “Chị ơi, đời em đã ba chìm bảy nổi, quý giá chi đâu mà so đo hơn thiệt. Em tính đưa hắn về đây giới thiệu, nhưng chưa có dịp. Không ngờ hắn tự mò đến trước. Hắn nói với anh chị thế nào?”

“Hắn nói sẽ dẫn thằng cha chủ ghe đến, nhưng anh chưa biết thực hư ra sao, chưa dám tin.”
“Chuyện này có thể tin được. Hắn chịu giúp mà không đặt điều kiện với anh chị, vì hắn biết anh chị không còn gì cả.”

“Tốt đến thế à?”
“Không. Hắn đặt điều kiện với em.”

“Điều kiện gì?”
“Sau khi anh chị ra đi, em làm vợ hắn.”

Vợ tôi hỏi: “Rồi em tính sao?”
Cô bình thản: “Trao đổi như thế cũng hay. Hắn cần tình. Em cần tiền.

Ngồi lặng một lúc lâu, vợ tôi xúc động cầm tay cô Nga: “Chị có lỗi với em,”
Cô ngạc nhiên: “Không. Chị có lỗi gì đâu?”

Cô Nga không hiểu, nhưng tôi hiểu. Vợ tôi ân hận vì đã nghi ngờ có chuyện vụng trộm giữa tôi và cô Nga, và gọi cô là con đĩ ngựa, dù chỉ nói với tôi.

Trong một đêm trăng mù sương, nơi ven rừng âm u sát bờ biển, cô Nga đưa chúng tôi xuống bãi Tân Hao. Cô đi với gã thượng úy. Gã đến đây, kiểm soát và đếm đầu người để tính ra số vàng tên chủ ghe người Miên phải trả.

Mọi người đã lên ghe. Vợ con tôi cũng lên ghe rồi. Cô Nga đứng sát mé nước. Sóng trườn lên bãi ướt cả gấu quần. Tôi cầm tay cô, ứa nước mắt nói những lời từ biệt.

Cô cũng siết tay tôi: “Anh chị ra đi bình yên. Mong chị không hiểu lầm em.”

Dưới màu trăng khuya, tôi không nhìn rõ mặt cô Nga nhưng tôi đoán cô buồn lắm. Đó là lần cuối cùng tôi và cô còn gặp.

Mười hai năm, trên xứ Mỹ. Thời gian không dài lắm, nhưng cũng đủ lãng quên những oán hờn ngày cũ. Bao nhiêu khuôn mặt bẩn thỉu xấu xa trong quá khứ, nhòa dần trong trí nhớ. Chỉ hình ảnh một cô Nga là còn đậm nét trong tôi. Muốn tìm cô để đền cái ơn tri ngộ, không là điều dễ. Trên đất nước Kampuchia ngày ấy, tôi cũng chẳng biết cô lưu lạc phương nào. Và tên Nga cũng chưa chắc là tên thật của cô ở quê nhà. Làm sao tìm lại được một con chim bay trong bao la trời đất?

Sunday, January 12, 2025

TỈNH PHƯỚC LONG

 Tòa Hành Chánh Phước Long vào năm 1963
 
Xin kính chào tất cả.
Hôm nay, chúng tôi gửi đến tất cả một bài viết về Phước Long. Cách nay đúng 50 năm, cũng vào tháng này, nó là tỉnh đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay phía cộng sản.
Phước Long là nơi mà rất nhiều người trong gia tộc chúng tôi có một thời gian dài gắn bó. Nó là nơi mà tôi có rất nhiều kỷ niệm thời thơ ấu. Đây cũng là nơi duy nhất mà tôi được gặp cả hai vị nguyên thủ quốc gia của nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Năm 1956, sau khi thân phụ của chúng tôi thôi giữ chức thư ký Hội Đồng Xã An Hòa (Trảng Bàng) thì về mua một căn nhà tại Tân Việt, sát Quốc Lộ 1, và đó là một trong ba căn nhà đầu tiên nếu đi từ Quốc Lộ 1 vào Trại Hoàng Hoa Thám. Sau đó, gia đình chúng tôi lại chuyển về Đường Trương Minh Ký, sát cổng xe lửa số 6. Cuối cùng, chúng tôi dọn vào một khu đất nằm cạnh Rạch Nhiêu Lộc, cách đó không xa. Về mặt thổ nhưỡng, chúng tôi thuộc Ấp Tây 3, Phú Nhuận.
Cũng trong thời gian này, vì nhu cầu hành chánh và cũng nằm trong khuôn khổ chương trình khẩn hoang lập ấp, Chính Phủ Ngô Đình Diệm cho thành lập nhiều tỉnh mới mà trong đó có Phước Long. Chính vì vậy nên thân phụ của chúng tôi được gửi đến tu nghiệp cấp tốc tại Ba Son. Tôi nhớ, có thấy thân phụ chúng tôi đem về nhà mấy hộp keo dán gỗ của Pháp. Loại keo này màu trắng đựng trong hộp màu cam, chữ đen.
Sau khi tu nghiệp, thân phụ của chúng tôi được thuyên chuyển về Khu Bắc Công Chánh Nam Phần. Sau đó, ông cùng một người bác họ của chúng tôi được gửi lên Phước Long. Hai người đảm trách phần nội thất bằng gỗ bên trong Tòa Hành Chánh Tỉnh Phước Long.
Một thời gian sau đó, gia đình chúng tôi cũng theo lên Phước Long. Chúng tôi được cấp cho một căn nhà trong Cư Xá Công Chánh lúc đó còn ở Phước Bình, sát phi trường. Gần đó là nhà thờ Họ Phước Bình. Họ đạo này do Linh Mục Huỳnh Văn Nhường quản nhiệm.
Cũng trong thời gian này, chú của tôi, Thiếu Úy Nguyễn Xuân Phê, vừa mới tu nghiệp ở Hoa Kỳ về, được lệnh đem một trung đội Công Binh Nhảy Dù lên Phước Long làm mấy cây cầu. Vào thời đó, Công Chánh Phước Long chưa được đầy đủ cho lắm trong khi Công Binh Nhảy Dù thì đã được tối tân hóa từ năm 1956, 1957.
Sau đó, khi tỉnh lỵ Phước Long đã được hoàn chỉnh mọi mặt thì gia đình chúng tôi dọn vào trong đó. Tỉnh lỵ lúc đó có Cư Xá Công Chức và Cư Xá Công Chánh. Gia đình chúng tôi được cấp cho một căn nhà vách ván mới tinh trong Cư Xá Công Chánh. Tối tối, cha của tôi thường lấy xe đạp chở chúng tôi đến nhà thờ. Anh em chúng tôi thích lắm, vì chỗ nào cũng có đèn đường sáng trưng và đèn hiệu trên các tiệm buôn thì muôn màu muôn sắc rất đẹp.
Năm 1960, tôi đã có đủ trí khôn để ghi nhận một số sự việc mà mãi sau này, ôn lại những sự việc đó, tôi mới hiểu rõ hơn.
Lúc bấy giờ, Tỉnh Trưởng Phước Long là Thiếu Tá Đỗ Văn Diễn, và Phó Tỉnh Trưởng Nội An là Đại Úy Kỵ Binh Lý Tòng Bá.
Thiếu Tá Diễn tuy là thượng cấp của cha tôi nhưng vì hai người thường gặp nhau ở nhà thờ tỉnh lỵ nên có phần gần gũi. Tôi thường ghé vào Tòa Hành Chánh xem cha tôi làm việc và do đó, gặp Đại Úy Lý Tòng Bá. Chiều chiều, Đại Úy Bá thường cùng các sĩ quan khác ra phía sau Tòa Hành Chánh dượt bắn súng Colt-45. Đại Úy Bá trẻ trung, thường nháy mắt với bọn nhóc chúng tôi.
Rất tiếc là Đại Úy Lý Tòng Bá bị hàm oan trong vụ đảo chánh hụt ngày 11 tháng 11 năm 1960. Có một kẻ nào đó đã xàm tấu lên Thiếu Tá Diễn là Đại Úy Bá cùng Trưởng Ty Công An – Cảnh Sát Phước Long là Trần Ngọc Long ngầm theo phe đảo chánh. Thiếu Tá Diễn cho mời Đại Úy Bá vào chất vấn trong khi ông Long thì kinh hoảng chạy xe về Sài Gòn trình diện Thiếu Tướng Nguyễn Văn Là, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Đại Úy Bá thì được trả về binh chủng Thiết Giáp và Trung Tá Nguyễn Văn Thiện, chỉ huy trưởng binh chủng này, trả Đại Úy Bá về đơn vị gốc là Trung Đoàn 10 Cơ Giới dưới miền Tây.
Tôi xin nói thêm ở đây là trong vụ này, Đại Úy Bá đã bị vu oan. Thật sự thì Tướng Lý Tòng Bá một đời kính trọng Cụ Diệm và ghét ra mặt những kẻ được xem là “có công” trong vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963.
Tạm thời thay thế Đại Úy Lý Tòng Bá trong chức vụ Phó Tỉnh Trưởng Nội An Tỉnh Phước Long là ai, tôi không nhớ. Đến đầu năm 1962 thì người giữ chức vụ này là Thiếu Tá Lý Bá Hỷ. Ông xuất thân Khóa 3 Võ Bị Quốc Gia.
Lần đầu tiên gặp mặt Thiếu Tá Hỷ, tôi có cảm tưởng ông là một nhà giáo, một bác học hơn là một sĩ quan hiện dịch từng chỉ huy đơn vị trong các cuộc hành quân trong vùng rừng thiêng nước độc. Thiếu Tá Hỷ có khuôn mặt tươi sáng và hiền lành. Ông có một đứa con trai tên là Luân, ngồi cạnh tôi trong lớp học. Do đó mà tôi được ông hỏi thăm.
Giống như cha của mình, Luân có mái tóc cắt ngắn kiểu nhà binh. Luân đi học, không có xe Jeep chở đến trường mà chỉ có một anh lính Bảo An chở bằng xe đạp đến cổng trường. Luân không được cha mẹ cho tiền ăn quà vặt trong trường, mặc dù Thiếu Tá Hỷ xuất thân từ gia đình đại diền chủ dưới Tỉnh Phong Dinh, rất giàu có.
Đến thời Trung Tá Nguyễn Dương Huy giữ chức Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng Phước Long thì Thiếu Tá Hỷ tiếp tục giữ chức vụ cũ một thời gian rồi sang Tỉnh Bình Long giữ chức vụ tương tự. Vài tháng sau, ông được thăng cấp trung tá và lên giữ chức vụ Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Long. Trong thời gian này, thấy nhà thờ Bình Long chưa có chuông mà chỉ có trống, Trung Tá Hỷ đã dùng tiền riêng của mình đài thọ nhà thờ đặt đúc một trái chuông lớn.
Rất tiếc rằng Trung Tá Hỷ chỉ giữ chức vụ này một thời gian ngắn. Từ đó cho đến tháng Tư Đen 1975, Trung Tá Hỷ không bao giờ được bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy mà chỉ làm phó. Cuối cùng, ông mang cấp bậc chuẩn tướng, giữ chức vụ Tư Lệnh Phó Biệt Khu Thủ Đô.
Chuẩn Tướng Lý Bá Hỷ là một trong những sĩ quan mà tôi kính mến nhất trong đời.
Tôi được gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào năm 1963.
Tổng Thống Diệm đi kinh lý tại Phước Long rất nhiều lần. Tuy nhiên, vào tháng Ba 1963 thì Cụ đến đó mừng Lễ Hai Bà Trưng, lúc đó được chọn làm Ngày Phụ Nữ Việt Nam. Thân phụ của chúng tôi và vài người nữa hôm đó có mặt tại Tòa Hành Chánh vì là một trong những người phụ trách việc thiết lập khán đài cho ngày lễ. Hơn nữa, những người này còn phải có mặt ở đó để nghe Cụ dặn dò thêm về việc trang trí nội thất Tòa Hành Chánh. Cụ rất bình dân, dễ dãi với mọi người chung quanh. Như thường lệ, Cụ nhúng chiếc khăn vào thau nước lạnh, rồi vừa lau mặt lau cổ vừa hỏi thăm mọi người một cách rất bình dị. Tôi đứng xem một lúc rồi Cụ cùng các viên chức đi ra lễ đài. Kể từ lúc đó, bọn nhóc chúng tôi không còn được phép đến gần Cụ nữa.
Nói đến Phước Long thì phải nói đến Đồng Bào Thượng thuộc sắc tộc S’Tiêng sinh sống từ rất lâu đời tại đây. Gia đình chúng tôi cũng có gắn bó với họ ít nhiều.
Thân phụ của chúng tôi không gia nhập Đảng Cần Lao Nhân Vị. Tuy nhiên, cũng như hầu hết giới công chức thời bấy giờ, ông có gia nhập Thanh Niên Cộng Hòa. Hàng năm, đoàn thể này có tổ chức sinh hoạt tại Thác Mơ. Lúc đó, nơi này chưa có đặt tượng Đức Mẹ Maria nên chưa có tên Thác Đức Mẹ như sau này.
Hai bên Thác Mơ lúc đó có mấy khu vực trồng cây điều, vốn được xem là cây kỹ nghệ hơn là cây ăn trái. Mỗi lần ra đó thăm thân phụ, anh em chúng tôi đều vào vườn điều hái trái ăn, nhưng phải bỏ hột lại.
Sau một thời gian tìm hiểu về đất đai, cha mẹ chúng tôi theo lời khuyến khích của chính phủ mà tham gia chương trình khẩn hoang lập ấp. Gia đình chúng tôi được cấp phát một khu đất rất rộng nằm bên Hương Lộ 310 thuộc Xã Sơn Giang, Quận Phước Bình. Sau khi nhân viên Ty Điền Địa cắm cọc ấn định ranh giới, Ty Công Chánh đem xe cơ giới ra ban đất cho bằng phẳng. Cuối cùng, nhân viên của Ty Canh Nông ra lấy một ít mẫu đất về phân tích. Một thời gian sau, họ trở lại cho biết những nơi nào nên trồng những thứ gì. Theo lời khuyên của họ, cha mẹ chúng tôi cho trồng điều ở một khu, trồng mãng cầu Xiêm, xoài và mít tại một khu khác. Khu xa nhà hơn thì trồng khóm và thơm tây, còn được gọi là dứa, lá không có gai như khóm. Khu xa nhà nhất thì chúng tôi trồng lúa và có một khu nhỏ trồng cà-phê. Riêng phần đất gần nhà nhất thì chúng tôi trồng các thứ hoa màu phụ như các loại rau, đậu đen, đậu xanh, đậu nành, và khoai lang. Chúng tôi trồng một ít đu đủ và chỉ trồng một ít chuối với mục đích chính là lấy cây non thái mỏng cho heo ăn sống.
Việc biến một lô đất hoang sơ thành một trang trại phần lớn là nhờ đồng bào Thượng sống gần đó.
Ra khỏi cổng nhà tôi, đi về phía nam khoảng mấy trăm thước là một ngã tư nhỏ. Đi về phía tây, có trại cưa Nguyễn Trung Trinh và đi qua trại cưa đó là một làng lớn của đồng bào Thượng mà chúng tôi gọi là SÓC. Họ hỏi thăm chúng tôi cần những gì và rồi một toán hơn chục người cả nam lẫn nữ kéo ra giúp chúng tôi.
Trước hết, những thanh niên khỏe mạnh chặt lồ ô đem về làm hàng rào để ngăn ngừa heo rừng về phá mùa màng. Kế đến, họ đốn sạch những bụi tre rồi chờ cho khô mà đốt. Sau đó, họ tìm những cây hoang còn mọc chồi lên đào tận gốc để triệt hẳn.
Những đồng bào Thượng đó làm cật lực mà không hề đòi thù lao tương xứng. Họ chỉ nhận một số tiền nhỏ, như thể họ không sống nhờ vào đồng tiền. Thỉnh thoảng họ còn ghé ra chơi, ra thăm vườn, làm một số việc vặt mà không lấy công, chỉ nhận một ít đồ dùng thật sự cần thiết.
Trong khi chúng tôi vất vả việc canh nông quanh năm thì người Thượng quanh đó có vẻ nhàn hạ. Chiều chiều, họ thả diều bay rất cao. Những con diều đó còn đem lên không trung những ống sáo phát ra những tiếng nhạc nghe rất não nuột.
Về sau, không rõ vì đâu, tôi quen biết một đại gia đình người Thượng có một căn nhà xây rất lớn trên Đường Tự Do, gần tiệm buôn Thái Thanh Hòa. Gia đình này có một người con trai là nhân viên Kiểm Lâm.
Tôi có ghé đến nhà họ chơi mấy lần, đánh bài carté đến khuya.
Gia đình họ có một người con gái rất đẹp, hơn tôi vài tuổi. Giữa năm 1968, chị này có một lần chạy chiếc Honda Dame mới tinh chở tôi ra chợ mua ít thứ cần dùng. Chị mặc quần tây và áo chemise rất thanh lịch. Chị nói chuyện với những người bán hàng với ngôn ngữ của một người có gia giáo, có trình độ học vấn rất cao.
Là những người Công Giáo nhiệt thành, chúng tôi cũng rất gắn bó với việc đạo. Sau khi có Công Đồng Vaticano II thì các thày cả cử hành thánh lễ bằng tiếng địa phương, thay vì tiếng Latin như trước đó. Thày cả và các em giúp lễ cũng quay mặt về phía cộng đoàn giáo dân, thay vì quay lên bàn thờ.
Một hôm, linh mục chánh xứ Phước Long là Cha Đa-Minh Đào Công Doanh lái chiếc Volkswagen Beetle ra nhà tôi chở cha tôi vào trong đó. Tôi cũng đi theo.
Trong lúc tôi chơi ở bên ngoài nhà thờ thì cha Doanh và cha tôi quanh quẩn ở khu bàn thánh, chỉ trỏ bàn bạc lâu lắm.
Mấy ngày sau, cha tôi đem về mấy mảnh giấy mà trên đó phác họa một thánh giá rất kiểu cọ, cầu kỳ. Sau đó, cha tôi đem về một ít gỗ cẩm lai và cưa, cắt, bào rồi dùng keo gắn lại thành một thánh giá giống như mẫu vẽ trên mấy mảnh giấy. Cuối cùng, cha tôi đem về nhà một tượng Chúa Giê-su Chịu Nạn cũng bằng gỗ cẩm lai, không rõ do ai chạm, khắc. Cha tôi gắn tượng đó vào thánh giá rồi tôi đánh giấy nhám cho nhẵn trước khi cha tôi đánh mấy lớp verni cho bóng.
Sau đó, thánh giá được trịnh trọng gắn vào bức tường nhà thờ, phía sau cung thánh và sau lưng thày cả.
Lúc đó là năm 1965, và năm 1970 khi tôi trở lại Phước Long, thấy thánh giá vẫn còn ở vị trí ban đầu.
Vào năm 1965 đó, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chưa có Địa Phận Ban Mê Thuột. Do đó, Giáo Hạt Phước Long thuộc Địa Phận Đà Lạt mà giám mục là Đức Cha Simon-Hòa Nguyễn Văn Hiền. Năm 1965, ngài có đến Phước Long ban phép Thêm Sức, và tôi là một trong những đứa trẻ giúp lễ cho ngài. Sau lễ, tôi được mấy dì phước xoa đầu khen khiến tôi nở cả lỗ mũi mấy ngày liền.
Cũng năm 1965 đó, tôi trở về Sài Gòn và ở luôn trong nhà dòng. Năm 1970, tôi trở lại Phước Long một thời gian rất ngắn, nhưng nhiều kỷ niệm.
Cuối tháng Ba 1970, vài ngày sau khi chúng ta kỷ niệm Đệ Nhất Chu Niên ngày ban hành Luật Người Cày Có Ruộng 26 tháng Ba 1969, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi kinh lý Phước Long. Khác với lần trước, lần này trực thăng chở Tổng Thống không đáp xuống sân đáp trước Tòa Hành Chánh mà đáp xuống sân vận động tại Xã Sơn Giang.
Vừa bước ra khỏi trực thăng, Tổng Thống bắt tay Đại Tá Lưu Yểm, Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng Phước Long. Kế đến, Tổng Thống bắt tay ông Chủ Tịch Hội Đồng Tỉnh Phước Long và một số ty, sở trưởng. Sau đó, Tổng Thống bất ngờ đi về phía bên trái, nơi có khoảng gần hai chục học sinh Trường Trung Học Phước Long xếp hàng ngang chào đón. Thấy vậy, tôi vội vàng chạy theo.
Theo đúng nguyên tắc, tôi đứng bên Tổng Thống, nhưng lùi lại phía sau nửa thước, mắt nhìn qua lại trong phạm vi 120 độ. Người mà Tổng Thống bắt tay hỏi thăm là một nam sinh người Thượng. Tôi nghe rõ Tổng Thống hỏi, “Năm nay em học lớp mấy rồi?”
Quá bất ngờ, nhưng nam sinh đó vẫn trả lời một cách khá điềm nhiên và lễ phép, “Dạ, kính thưa Tổng Thống, em tên là Điểu Tấn Đức. Em đang học lớp Đệ Tứ.”
Ông Hiệu Trưởng Trường Trung Học Phước Long là Thầy Vũ Đình Tiến bước đến bên cạnh Tổng Thống, tiếp lời, “Kính thưa Tổng Thống, em nam sinh này là người sắc tộc thiểu số.” Tổng Thống nghe xong, quay lại nhìn em Đức với ánh mắt như vừa khen, vừa khích lệ, rồi Tổng Thống mới buông tay em ra.
Kế tiếp, Tổng Thống bắt tay vài học sinh đứng gần đó rồi quay ngược lại, theo Đại Tá Lưu Yểm đi về mấy chiếc xe đang đậu gần đó để đi vào tỉnh lỵ.
Vào năm 1970 đó, nhiều người trong gia tộc chúng tôi làm việc ở Phước Long. Vị đại úy Trưởng Phòng Truyền Tin Tiểu Khu Phước Long là chú họ của tôi. Một người bà con khác giữ chức vụ Tiểu Đội Trưởng Quân Cảnh Điều Tra Tư Pháp. Ngoài ra, còn mấy người nữa làm việc bên Ty Cảnh Sát Quốc Gia, và Ty Tiểu Học. Vì thế nên cuối tuần, nhiều xe Jeep đậu trước nhà tôi, ở xa xa có thể nhìn thấy rất rõ ràng.
Có thể vì thế nên mấy ông trong bưng đêm đêm có ghé đến nhà tôi đặt vấn đề. Cuối cùng, gia đình tôi đành phải bán trang trại mà trở về Sài Gòn.
Tháng Giêng 1975, anh em chúng tôi ngoài Pleiku bận bù đầu. Đó là vì Đại Tá Biệt Động Quân Hoàng Thọ Nhu thay thế Đại Tá Kỵ Binh Nguyễn Đức Dung trong chức vụ Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng Pleiku. Tiếp theo sau là thay đổi nhân sự hàng loạt, và hàng loạt bưu điệp gửi ra từ Phủ Tổng Thống, Phủ Thủ Tướng. Giữa lúc đó thì chúng tôi được tin Phước Long thất thủ.
Đối với cá nhân tôi thì điều lo lắng bên cạnh là chúng tôi có một người thân trên Phước Long lúc đó. Đó là Linh Mục Vũ Cát Đại, Chánh Xứ Phước Long, và cũng là tuyên úy Công Giáo của Tiểu Khu Phước Long. Ngài được ghi nhận là mất tích.
Hai tháng sau, tới phiên cá nhân tôi, ngã ngựa trên Liên Tỉnh Lộ 7B. Tôi buông súng trước anh em ở Sài Gòn đúng sáu tuần lễ.
Kính thưa tất cả,
Đó là những gì tôi còn ghi nhận được, và còn nhớ được về Phước Long, vùng đất đỏ xa xôi, nơi mà Kinh – Thượng Một Nhà. Xin xem hình ảnh đính kèm có thêm phần chú thích.
Khiết Nguyễn 
 
Tịnh Xá Ngọc Đức, 1968.
Nó nằm phía sau khu công xưởng phụ của Ty Công Chánh, hướng về phía Hồ Long Thủy.
 
Tòa Hành Chánh Phước Long vào năm 1970.
 
Tòa Hành Chánh Phước Long vào năm 1970.
 
Tỉnh lỵ Phước Long vào năm 1970.
Số 1 là Tòa Hành Chánh.
Số 2 là Ty Cảnh Sát Quốc Gia.
Số 3 là Bệnh Viện Phước Long.
Số 4 là nhà thờ tỉnh lỵ Phước Long.
Số 5, hai căn nhà dài là Trường Tiểu Học Cộng Đồng Phước Long.
Phía bên trái là khu vực Ty Tiểu Học.
Sau Ty Tiểu Học là Trạm Quân Y Diện Địa. Nơi đây chẩn bệnh và phát thuốc cho cả quân nhân lẫn thường dân.
Số 6 là Hội Trường và Ấu Trĩ Viên dành cho trẻ em, có vườn và khu vực vui chơi.
Số 7 là Chợ Phước Long và bến xe.
Số 8 là Hồ Long Thủy.
Sớ 9 là Ty Công Chánh và Cư Xá Công Chánh.
Số 10 là khu vực các Ty Kiến Thiết, Ty Điền Địa, Ty Canh Nông, Ty Thanh Niên.
Số 11 là Trường Trung Học Phước Long. Trường này được xây vào năm 1968 để thay Trường Nhất Linh bị bỏ phế vì hư hại nặng trong biến cố Mậu Thân.
Số 12 là Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long.
 
Tỉnh lỵ Phước Long sau biến cố Tết Mậu Thân 1968.
Số 1 là Tòa Hành Chánh.
Số 2 là Ty Cảnh Sát Quốc Gia.
Số 3 là bãi đậu dành cho phi cơ quan sát L-19.
Số 4 là Bệnh Viện Phước Long.
 
Hình chụp Núi Bà Rá từ sân đáp trực thăng của Tòa Hành Chánh Phước Long, khoảng 1969. Gần giữa hình, xích về phía bên trái, là tháp Nhà Thờ Phước Long
 
Hình chụp vào khoảng 1964, 1965. Đây là con đường thẳng phía trước Tòa Hành Chánh Phước Long và đi ngang qua nhà thờ tỉnh lỵ. Nguyên thủy, nó là đoạn cuối của Hương Lộ 310 nhưng sau năm 1963 nó được đổi tên thành Đại Lộ Cách Mạng.
Người chụp hình này đứng trên khu đất thuộc Ty Canh Nông Phước Long. Từ thời 1957, 1958, người ta trồng trọt các loại hoa màu như đậu phộng, đậu nành trên khu đất này.
Xa xa là Nhà Thờ Phước Long. Phía sau là căn nhà tôle hai tầng. Tầng dưới là nơi tiếp khách và một phòng giải trí.
Ở tầng trên, đầu bên trái là phòng của linh mục chánh xứ. Ở giữa là phòng dành cho khách. Đầu bên phải là phòng ngủ dành cho bọn giúp lễ chúng tôi.
Phía sau có một căn nhả nhỏ khá dài. Đây là khu nhà kho, nhà bếp và nhà ăn.
Tại nhà xứ này, tôi đã gặp nhiều nhân vật như Dân Biểu Nguyễn Bá Lương, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện, và Đại Tá Phạm Quốc Thuần, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Kiêm Tư Lệnh Khu 32 Chiến Thuật.
Cũng tại nơi này, tôi còn gặp hai vị trung tá của Sư Đoàn 5 Bộ Binh mà sau này là Cố Chuẩn Tướng Lý Đức Quân và Cố Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ


Ngày nầy, năm 1975 * Tiểu Tử

Năm nay tôi 80 tuổi . Vợ tôi thường nói với mấy con :« Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá ! Bây coi : ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua ! Chi vậy hổng biết ? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ ! Trời đất ! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày ! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam… »
Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật ! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…
Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình : ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ « cái ngày đó » nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già , tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…
*****
…Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Singapore vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu. Các bạn tôi
trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền nam, từ kho Nại Hiên Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…
Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi còm-măng Singapore một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Navy Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sàigòn để cập kho Nhà Bè !
Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bày ngày tác chiến của không quân. Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời :« Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút ! ». Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là « Xếp » – nhờ hay đi họp chung. Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói :” Bonjour ! çà va ?” ( Chào ông ! Mạnh hả ?)
Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa !
Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết :« Rất tiếc ! Chúng tôi không giúp được ! Thôi ! Chúng tôi về ! ». Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp :« Allez vous en ! » ( Ông hãy đi, đi ! ) Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng ” Allez vous en ! ” (Ông hãy đi, đi ! ) …
Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì « họ » dán…đầy đường cái nhãn « hai bàn tay nắm lấy nhau » để chứng tỏ sự thật tình « khắn khít », rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng « thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình » !
Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng :«Chánh quyền Mỹ từ chối ! ». Sau đó, tôi đánh điện qua Singapore, cũng chỉ bằng một câu :« Không có hộ tống ». Họ trả lời ngay :« OK ! Good Luck ! » ( Nhận được ! Chúc may mắn ! ) Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xót !
Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên :« Sao về vậy anh ? ». Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc . Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc :« Ờ…Khóc đi anh ! Khóc đi ! »
Ngày đó, tháng tư năm 1975… Đúng là ngày nầy !
Chuyện thuở giao thời
Tháng 3, rồi tháng 4 năm 1975, thiên hạ chạy di tản rần rần từ miền trung vào trong nam, rồi từ đất liền “chạy” ra biển, nhốn nháo hỗn loạn chẳng biết “trời trăng” gì hết,.. chỉ có một ý nghĩ rõ rệt ở trong đầu là “Ở lại với tụi nó là chết !”. Vậy rồi giai đoạn di tản đó chấm dứt vào ngày 30 tháng 4……
Giữa tháng 4, một thằng bạn gọi điện thoại cho tôi, nói: “Mầy đừng đi di tản. Ở lại đi ! Không có sao hết ! Tao bảo đảm“. Thằng nầy làm lớn trong “Tổng Nha”, nó nói “chắc như bắp” ! Lại một thằng bạn khác – thằng này người Pháp, làm việc ở sứ quán Pháp – nói trong điện thoại, giọng rất bình thản: “Mầy đừng đi đâu hết ! Mọi việc đều đã thoả thuận trước rồi ! Yên tâm !“. Riêng tôi, tôi nghĩ: “Mình làm việc cho hãng dầu ngoại quốc trực thuộc hãng quốc tế SIPC ( Shell International Petroleum Company – Anh Quốc ) chắc không sao ! “. Vậy là tôi quyết định ở lại……
Ngày 30 tháng tư năm 1975 ! Việt cộng vào “đớp” hết, công tư gì cũng đớp hết, thượng vàng hạ cám gì cũng đớp hết. Họ gọi hành động đó bằng một danh từ nghe cũng… văn chương: “Tiếp Quản“. Không biết hai thằng bạn tôi kể ở trên có… tức hộc máu hay không khi thấy mình bị gạt dễ dàng như con nít ? Riêng tôi, tôi thấy như tôi từ trên trời rơi xuống, thấy những gì xưa nay mình học, mình hỏi, mình hiểu biết, mình suy luận v.v… đều sai bét đối với “cái gọi là cách mạng” !
Hãng dầu tôi làm việc bị tiếp thu bởi… “ê-kíp” có bí số K7. Những người nầy mặc đồ đen đội mũ tai bèo đen. Mấy tay có vẻ “xếp” mang túi dết ngang hông và bao súng lục nằm… sau đít ! Họ chiếm kho dầu Nhà Bè và văn phòng trung ương ở đường Thống Nhứt. Hai hôm sau, có tin bộ đội vào kho Nhà Bè “vít” K7 ra ngoài, vì kho dầu không thuộc quyền quản lý của mấy cha K7. 
Vậy là trong cái tổ chức rất là… “cách mạng” nầy, cái “đầu não” của công ty không còn dính với cái thân mình là kho dầu nữa ! Phải nói thiệt : tôi làm việc cho hãng dầu hơn 19 năm, đã đi thăm viếng nhiều hãng dầu ở các quốc gia khác, nhưng chưa thấy một tổ chức hãng dầu nào… khùng như vậy !Qua sáng ngày thứ ba, tôi được chở xuống kho Nhà Bè để hướng dẫn một ông tướng VC đi viếng kho (Có lẽ mấy tên “nằm vùng” đã cho bọn “cách mạng” biết rằng tôi… rành kho dầu này lắm ! ) Đến kho, tôi được “ông” bộ đội xếp kho cho biết ông tướng là “xếp” cục hậu cần. Tôi tưởng tượng sẽ gặp lão ta với bộ quân phục thẳng nếp và một ngực mề đai như thường thấy ở mấy tướng các nước cộng sản !…Xe ông tướng đến. Bước xuống là một người cao lớn mặc bộ đồ “xá xẩu” tàu bằng lụa màu ngà, đội nón Panama trắng, miệng ngậm ống đót có điếu thuốc đang cháy dở. Được giới thiệu, ông ta không bắt tay tôi, chỉ gật nhẹ đầu, nói: “Ta đi thôi !”. Tôi lưu ý ông ta đừng hút thuốc trước khi vào kho. Ổng gạt bỏ mẫu thuốc nhưng vẫn ngậm ống đót trên môi…
Kho Nhà Bè lớn lắm. Ngoài bốn cầu tàu chiếm hết mặt sông, trên bờ có khu bồn chứa và các khu nhà máy trộn nhớt, trộn hoá chất, sản xuất thùng thiếc 20 lít đựng dầu hôi, châm dầu vào thùng 200 lít, nhà máy nhựa đường.v.v… “Phái đoàn” đi viếng gồm có ông tướng, hai người hộ vệ và xếp kho. Vì kho dầu không làm việc nên tôi chỉ đưa họ đi… phớt phớt vòng ngoài các khu nhà máy. Tôi có ý đợi họ đặt câu hỏi, nhưng không nghe cha nào nói một tiếng. Sau nầy, tôi mới biết rằng ngoài bắc không có những gì chúng tôi có ở trong nam, cho nên họ không biết… khỉ gì để mà hỏi 
Đến khu bồn chứa, bỗng ông tướng chỉ một cái bồn, hỏi: “Cái bể nầy bao nhiêu khối ? “. Tôi trả lời: “Mười lăm ngàn m3“. Hỏi: “Mỹ nó làm cho các anh đấy à ? “. Trả lời: “Không có thằng Mỹ nào vô đây hết ! Toàn là dân Việt Nam thực hiện“. Nghe vậy, lão ta cười khẫy: “Làm gì có ! Ở ngoài ta, trên 2000 khối là phải ông Liên Xô hay ông Trung Quốc thực hiện cơ ! “. Cái cách thằng chả nghi ngờ lời tôi nói đã chạm mạnh tự ái của tôi, đồng thời cũng cho tôi thấy rằng miền bắc của mấy chả nó dở ẹc hà ! Tôi nhấn mạnh: “Tất cả ba mươi mấy cái bồn nầy, lớn nhỏ gì cũng do nhà thầu thực hiện với thầy thợ hoàn toàn người Việt“. Tôi đưa mấy người đến xem cái bồn mới làm xong cách đây mươi hôm. Đó là cái bồn lớn nhứt kho Nhà Bè, 30000 m3, do nhà thầu Việt Nam EVS thực hiện, nó lớn bằng nửa cái sân banh !
Từ đó, mấy chả làm thinh luôn cho đến về văn phòng để họp với mấy anh em cấp chỉ huy cũ theo ý muốn của ông tướng ! Sau khi nghe mấy anh em lần lượt trình bày lý lịch, cấp bậc, phần việc và lương bổng của mình, ông tướng nói : “Các anh yên tâm : Đảng và Nhà Nước sẽ trả lương các anh y như cũ. Cứ yên chí phục vụ ! “. Nghe giọng ông ta rất tin tưởng vào những gì ổng nói, mình cũng thấy tin tưởng theo… …Thời gian sau, hãng dầu đường Thống Nhứt được mang tên “Công Ty Xăng Dầu Khu Vực Hai“. Hỏi “Khu Vực Một” ở đâu thì được trả lời “Chưa có, nhưng đã có Tổng Công Ty ở Hà Nội” ! Cách mạng có khác 
Rồi là “xếp thang lương“, nghĩa là mỗi ngành mỗi nghề đều được xếp cấp bậc trên từng thang lương, từ đó lãnh lương mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ nửa lương. Tôi được xếp “kỹ sư bậc 2 trên 6“, nghe… khoẻ re. Thang lương có 6 bậc mà mình nằm gần trên đĩnh rồi, họ cũng biết… chấm điểm đó chớ ! Ai dè khi lãnh lương mới… té ngửa: mấy chả xếp thang lương ngược, hạng nhứt là bậc 6 nằm trên hết, rồi tuột lần xuống dưới chót là hạng một. Tôi bậc 2 trên 6, là hạng… áp chót ! Mẹ !…Tôi lãnh 80 đồng tiền mới (Vậy là thằng cha tướng Tổng Cục Hậu Cần đã nói láo ! ) Bực mình, chạy đi gặp thủ trưởng, ảnh nói: “Trời đất ! Bác Hồ chủ tịch nước mà chỉ lãnh có 200 đồng. Còn anh, anh lãnh tới 80 đồng còn muốn gì nữa ? “. Thấy thằng chả đem “Bác Hồ” ra… làm chứng, tôi biết có cãi cũng vô ích. Rồi tôi nhớ ra là anh tài xế cũ của tôi bây giờ lãnh 90 đồng, tôi… đánh đòn chót: “Vậy thôi anh cho tôi làm tài xế, đi ! “. Thằng chả cười, thấy như tôi sao quá khùng, nên vừa lắc đầu vừa trả lời: “Đâu được ! Anh là Kỹ Sư đâu làm tài xế được ! “. Tôi làm thinh, bước ra khỏi văn phòng thủ trưởng mà thấy như mình từ trên trời rơi xuống !
…Tôi “chịu trận” với cái gọi là “cách mạng” hết ba năm. Vượt biên thất bại hết ba lần, qua lần thứ tư đi thoát, để bây giờ – ba mươi mấy năm sau – ngồi viết mấy dòng nầy nhân ngày 30 tháng tư thứ 37… mà thấy không phải tôi đã từ trên trời rơi xuống, chính mấy thằng cha “cách mạng” mới là từ trên trời rơi xuống !

Jimmy Carter và cái giá của tổng thống một nhiệm kỳ - Tổng thống Jimmy Carter khuyên Đặng Tiểu Bình không nên đánh Việt Nam - Tang Lễ Cựu Tổng Thống Jimmy Carter

Cựu Tổng thống Jimmy Carter, người đã qua đời vào ngày 29/12/2024 ở tuổi 100, đã bị đánh giá thấp kể từ khi ông rời nhiệm sở vào tháng 1/1981. Trên thực tế, Carter là hình mẫu cho những gì một tổng thống một nhiệm kỳ có thể làm được. Trong thời đại mà hầu hết người Mỹ coi trọng giá trị của chiến thắng hơn bất kỳ điều gì khác, Carter đã chứng minh rằng một vị tổng tư lệnh sẵn sàng đốt cháy vốn chính trị và tập trung vào các mục tiêu cao cả thay vì lợi ích ngắn hạn có thể làm được những điều tuyệt vời cho quốc gia và thế giới.

Điều này có thể nghe lạ lùng đối với chúng ta ngày nay, nhưng kỹ năng của Carter trong vai trò nhà lãnh đạo và chính trị gia rất đáng gờm. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1976, vị cựu thống đốc Georgia vô danh đã đánh bại một số đối thủ nổi tiếng trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ và sau đó tiếp tục đánh bại Tổng thống đương nhiệm Gerald Ford.

Từ năm 1977 đến năm 1981, Carter đã đàm phán một thỏa thuận hòa bình lịch sử giữa người Ai Cập và người Israel – một thỏa thuận vẫn tồn tại cho đến ngày nay; đưa chủ nghĩa môi trường vào chương trình nghị sự chính trị ở thời điểm mà hầu hết các quan chức được bầu đều không coi vấn đề này là trọng tâm, bao gồm cả việc thông qua Đạo luật Bảo tồn Đất đai vì Lợi ích Quốc gia Alaska năm 1980; và nâng cao quyền con người trong chính sách đối ngoại thông qua những thay đổi quan trọng đối với Bộ Ngoại giao, tất cả đều nhận được sự đánh giá cao từ các nhà viết tiểu sử như Jonathan Alter và Kai Bird.

Cho đến nay, Hiệp ước Trại David vẫn là một trong số ít đột phá ngoại giao ở Trung Đông, và việc Carter bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1979 từ lâu đã được xem là một thành phần quan trọng trong việc làm tan băng Chiến tranh Lạnh. Hơn nữa, việc Carter ủng hộ các luật có đạo đức là liều thuốc tiên chữa lành vết thương của Watergate, cũng như những nỗ lực của ông nhằm tước bỏ “chế độ tổng thống chuyên quyền” (imperial presidency) bằng cách cắt giảm quy mô của thể chế này. Ví dụ, Carter đã loại bỏ một số nghi lễ, chẳng hạn như yêu cầu không phát bài “Hail to the Chief” khi ông bước vào phòng.

Tuy nhiên, nhiệm kỳ tổng thống của Carter cũng chứa đựng những câu chuyện cảnh giác. Dù giá trị của các chính quyền tổng thống một nhiệm kỳ như Carter cần được nghiên cứu và ca ngợi, nhưng cái giá khổng lồ khi thất bại trong việc củng cố và bảo vệ đảng chính trị đóng vai trò nền tảng cho nhiệm kỳ của vị tổng thống đó cũng cần được lưu tâm.

Cuối cùng thì, bất chấp mọi thành công, Carter đã khiến Đảng Dân chủ rơi vào thế yếu vào năm 1980, và mở cánh cửa vào Phòng Bầu dục cho một phong trào bảo thủ sẽ tiếp tục làm suy yếu các ý tưởng và chính sách quan trọng nhất của ông cho đến tận ngày nay.

Chính trị đảng phái theo kiểu cũ chưa bao giờ là vùng an toàn của Carter. Ngay từ đầu, ông đã phải vật lộn để duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Dân chủ tại Đồi Capitol. Nhiều đảng viên Dân chủ trong Quốc hội không tin tưởng ông và cho rằng thông điệp chống Washington của ông là có hại.

Trước khi nhậm chức, Carter đã có một cuộc trao đổi căng thẳng với Jack Brooks, Hạ nghị sĩ Dân chủ Texas, vào tháng 12/1976. Brooks, Chủ tịch Ủy ban Hạ viện về Hoạt động Chính phủ, đã lắng nghe khi tổng thống đắc cử giải thích cách ông dự định đề xuất một đạo luật vốn sẽ mở rộng thẩm quyền của mình, từ đó sáp nhập và thu hẹp các cơ quan liên bang nhằm theo đuổi hiệu quả cao hơn. Brooks đã cảnh báo tổng thống mới rằng Quốc hội sẽ không nhượng bộ thẩm quyền này cho ông. Nhưng Carter quyết không nhân nhượng. Căng thẳng trong phòng lên cao đến mức một trong những cố vấn hàng đầu của tổng thống, Bert Lance, đã phải can thiệp.

Quan hệ không mấy tốt đẹp với Đảng Dân chủ trong Quốc hội tiếp tục cản trở Carter tại thời điểm đang có một chính phủ thống nhất. Người liên lạc với Quốc hội thay mặt Tổng thống, Frank Moore, đã liên tục mắc sai lầm, làm xói mòn lòng tin đối với chính quyền mới ở cả Hạ viện và Thượng viện.

Có những sai lầm nhỏ nhặt, chẳng hạn như khi đội ngũ của Carter quyết định phục vụ bánh cuộn ngọt trên đĩa giấy, thay vì một bữa sáng đầy đủ tại một trong những cuộc họp đầu tiên của ông với các đảng viên Dân chủ từ Đồi Capitol. Các cuộc gọi điện thoại không được hồi đáp, và nhân viên của ông dường như không biết cách thức hoạt động của Washington. Trong một lần khác, đội ngũ của Moore đã không báo trước cho một nhà lập pháp của Đảng Dân chủ rằng tổng thống sẽ đến thăm quận của ông. Carter cũng chẳng giúp ích gì khi ông liên tục phản đối gần 300 dự án nước vào năm 1977 như một phần trong đề xuất ngân sách của mình, xem chúng là không cần thiết, theo đó làm phật lòng nhiều đảng viên Dân chủ cấp cao trong Quốc hội, những người đang trông chờ vào khoản chi tiêu đó.

“Họ chạy đua chống lại Washington, rồi trở thành một phần của Washington, nhưng lại không được trang bị về mặt tâm lý cũng như kỹ thuật để đối mặt với điều đó,” một hạ nghị sĩ của Đảng Dân chủ phàn nàn với tờ New York Times.

Cũng có những vấn đề lớn hơn, do chính Tổng thống Carter gây ra cho đảng của mình trong lúc theo đuổi một chương trình nghị sự tự do phi chính thống, hậu những năm 1960. Chẳng hạn, vào năm 1977 và 1978, Đảng Dân chủ chủ yếu quan tâm đến tình trạng ảm đạm của nền kinh tế, vốn đã bị ảnh hưởng bởi sự kết hợp của nạn thất nghiệp, lạm phát, và cuộc khủng hoảng năng lượng đang diễn ra. Khi Carter quyết định rằng bảo tồn năng lượng sẽ là ưu tiên hàng đầu của mình, nhiều nhà lập pháp trên Đồi Capitol đã không hài lòng.

Một số ưu tiên của Carter đã đi ngược lại lợi ích cơ bản của những vị đại diện cho các khối cử tri muốn có nhiều nhiên liệu hóa thạch hơn để cắt giảm chi phí, và việc bảo tồn năng lượng cũng không giải quyết được những nhu cầu thiết yếu, ngắn hạn của cử tri.

Như Chủ tịch Hạ viện Tip O’Neill hồi tưởng trong một bài viết chung với William Novak trên tờ Washington Post năm 1987, “Tôi đã nhiều lần phàn nàn về đội ngũ của Kennedy, nhưng chí ít họ còn quan tâm đến các thành viên Dân chủ của Quốc hội. Thái độ của họ là: Chúng tôi muốn các bạn được tái đắc cử, và chúng tôi đang nỗ lực giúp đỡ các bạn. Nhưng dưới thời Carter, những đảng viên Dân chủ trong Quốc hội thường có cảm giác rằng Nhà Trắng thực sự đang chống lại chúng tôi.”

Khi giải quyết các vấn đề trong nước, Carter thường xuyên làm các nhóm Dân chủ cốt lõi nổi giận. Gói kích thích kinh tế của vị tổng thống đắc cử năm 1977 đã hủy bỏ khoản hoàn thuế mà ông từng hứa với cử tri trung lưu, và đưa ra một luật chủ yếu tập trung vào giảm thuế. Carter phản đối mức chi tiêu công mà Đảng Dân chủ kêu gọi nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều nhà lãnh đạo người Mỹ gốc Phi nhận thấy rằng Carter không ưu tiên nhu cầu của họ. Tổng thống cũng cản trở nỗ lực thúc đẩy bảo hiểm y tế quốc gia của Thượng nghị sĩ Massachusetts Ted Kennedy, cắt đứt mọi cuộc đàm phán với em trai của hai huyền thoại đã khuất của Đảng Dân chủ.

Các sáng kiến chính sách khác của Carter chỉ càng làm tăng tốc phong trào bảo thủ hiện đại, vốn tìm cách thúc đẩy chính trị hữu khuynh. Năm 1977, Carter quyết định trao lại quyền kiểm soát Kênh đào Panama cho người Panama, tin rằng điều này sẽ làm giảm căng thẳng nội bộ mà Tướng Omar Torrijos Herrera đang chật vật giải quyết, và nói rộng hơn, là làm giảm tình cảm tiêu cực đối với Mỹ, vốn đã hình thành trong nhiều thập kỷ ở Mỹ Latinh.

Sau khi ký hai hiệp ước liên quan, Carter đã tìm đủ mọi cách bảo vệ chúng trong quá trình phê chuẩn của Thượng viện vào mùa xuân năm 1978. Ông yêu cầu các thượng nghị sĩ ủng hộ các hiệp ước, dù chúng không được ưa chuộng, bằng cách dựa vào quan hệ cá nhân và việc đưa các thượng nghị sĩ đến kênh đào để họ có thể tận mắt chứng kiến những gì đang bị đe dọa. Carter cũng tiến hành các cuộc họp với công nghệ điện thoại mới để ông và các thành viên chính quyền có thể trình bày trực tiếp quan điểm của mình với cử tri. Cuối cùng, chính sách chính trị cứng rắn đã có hiệu quả. Vào tháng 3/1978, Thượng viện đã phê chuẩn hiệp ước đầu tiên với tỷ lệ 68 trên 32. Sang tháng 4, Thượng viện tiếp tục phê chuẩn hiệp ước thứ hai với cùng biên độ.

Vấn đề là trong lúc Carter vui mừng về thành công của mình, thì phe bảo thủ cũng vậy, dù rằng họ đã thất bại. Những nhân vật bảo thủ như Ronald Reagan hiểu rằng hầu hết cử tri Dân chủ không quan tâm đến các hiệp ước này, dù một số người đồng tình với lời chỉ trích rằng chúng sẽ là dấu hiệu của sự kém cỏi. Trong khi đó, hầu hết các thành viên cánh hữu đều phản ứng dữ dội. Những người bảo thủ lên án hành động của Carter là không yêu nước và nguy hiểm.

“Chúng ta đã xây dựng nó, chúng ta đã trả tiền cho nó, nó là của chúng ta, và chúng ta sẽ giữ nó,” Reagan lập luận về kênh đào vào năm 1976.

Các tổ chức bảo thủ đã lợi dụng sự tức giận đối với hai hiệp ước để tăng số lượng thành viên và tiền quyên góp.

“Đó chính là lòng yêu nước, và đó là việc chúng ta làm tốt nhất,” Howard Phillips của tổ chức bảo thủ The Conservative Caucus tự hào nói.

Trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1978, liên minh bảo thủ của các đảng viên Dân chủ và Cộng hòa miền Nam đã được phục hồi sau năm 1976, một phần là nhờ các hiệp ước của Carter.

Đến cuối nhiệm kỳ của Carter, Đảng Dân chủ đã rơi vào khó khăn. Họ phải chịu thiệt hại trong các cuộc thăm dò khi các thành viên đối mặt với sự trỗi dậy nhanh chóng của Reagan. Ngoài ra, trong vòng bầu cử sơ bộ, Carter cũng phải đối mặt với thách thức tàn khốc từ Thượng nghị sĩ Kennedy, người đổ lỗi cho Carter vì đã từ bỏ các giá trị cốt lõi của Đảng Dân chủ khi theo đuổi đường lối trung dung. Với cuộc khủng hoảng con tin ngày càng trầm trọng hơn ở Iran, nơi có hơn 50 người Mỹ bị giam giữ, Đảng Dân chủ cuối cùng đã mất đi sự nhiệt tình bảo vệ Carter.

Dù Carter vẫn thắng thế trong vòng sơ bộ, ông đã bước vào đại hội đảng với thiệt hại nặng nề. Đảng Dân chủ hướng đến cuộc tổng tuyển cử cùng sự chia rẽ nội bộ, tinh thần suy sụp sâu sắc, và không đủ khả năng chứng minh với cử tri rằng họ đã làm hết sức mình sau bốn năm nắm quyền.

Kết quả của cuộc bầu cử năm 1980 là Reagan thắng với 489 phiếu Đại cử tri. Đảng Cộng hòa cũng giành được quyền kiểm soát Thượng viện, lần đầu tiên kể từ năm 1955. “Liên minh Dân chủ cũ vừa bỏ rơi Tổng thống Carter ngày hôm qua,” Adam Clymer của tờ New York Times nhận xét.

Trong tám năm tiếp theo, Reagan đã điều hướng chính trị sang cánh hữu, và trong nhiều thập kỷ sau đó, Đảng Cộng hòa đã tranh đấu dữ dội chống lại những gì Carter ủng hộ. Reagan mở rộng chi tiêu quân sự và ủng hộ kiểu lập trường quân phiệt trên trường quốc tế mà Carter đã chỉ trích – chí ít là cho đến khi Liên Xô xâm lược Afghanistan vào tháng 12/1979. Đảng Cộng hòa đã nhắm mục tiêu vào các chính sách liên bang nhằm thúc đẩy bảo vệ môi trường và giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch; một bộ phận của đảng thậm chí còn đi xa hơn khi đặt câu hỏi về chính khái niệm biến đổi khí hậu.

Từ Reagan đến Donald Trump, Đảng Cộng hòa đã nỗ lực khôi phục lại chế độ tổng thống chuyên quyền mà Carter đã chống lại vào năm 1976, khi ông đảm bảo với người Mỹ rằng họ có thể tin tưởng ông. Những lo ngại của Carter về đạo đức và tham nhũng đã bị gạt sang một bên. Đất nước dần chìm sâu trong kỷ nguyên mà tiền của tư nhân nhấn chìm nền chính trị, và ranh giới giữa chính trị kinh doanh và chính trị chuyên nghiệp đã bị xói mòn. Sự ngờ vực đối với chính phủ, bao gồm cả chức tổng thống, luôn ở mức cao.

Dù các nhà viết tiểu sử đã đạt được thành công lớn trong việc khôi phục lại những thành tựu bị lãng quên của Carter, hậu quả lâu dài của việc để lại một liên minh chính trị vỡ tan cũng không nên bị bỏ qua.

Chắc chắn, không phải tất cả các vấn đề mà Đảng Dân chủ phải đối mặt vào năm 1980 đều đáng bị đổ lên vai Carter. Đảng này đã phải đối mặt với những hạn chế và chia rẽ nội bộ của chính mình từ rất lâu trước khi Carter bước vào Nhà Trắng. (Hãy nhớ đến cuộc bầu cử năm 1972.) Nền kinh tế rơi vào tình trạng hỗn loạn và người Mỹ đang bị bắt làm con tin ở Iran là hai vấn đề có thể hủy diệt bất kỳ đảng nào.

Hơn nữa, kỹ năng chính trị sắc bén của Reagan và sự ủng hộ sâu rộng đối với phong trào bảo thủ cũng là những yếu tố quan trọng dẫn đến chiến thắng của phe bảo thủ vào năm 1980.

Tuy nhiên, các tổng thống, bao gồm cả Carter, không thể thoát khỏi những lời chỉ trích xuất phát từ những vấn đề mà đảng của họ phải đối mặt, đặc biệt là khi chính họ đã tạo ra lỗ hổng cho các thế lực phản đối. Khi các tổng thống gặp khó khăn trong việc xây dựng đảng, thì luật pháp, ý tưởng, và thậm chí là cơ hội tái đắc cử sẽ nhanh chóng bị lu mờ bởi việc chuyển giao quyền lực cho một nhà lãnh đạo mới và một liên minh mới, những người sẽ đấu tranh để phá bỏ hầu hết mọi thứ mà người tiền nhiệm của họ đã nỗ lực xây dựng.

Trong lúc Tổng thống Joe Biden chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ, Đảng Dân chủ một lần nữa nhận ra được tầm quan trọng của việc xây dựng đảng. Biden, người đạt được nhiều thành công về mặt lập pháp hơn Carter, đã không thể cải thiện cục diện cho đảng của mình so với khi ông nhậm chức.

Cuộc bầu cử năm 2024 đã đưa chủ nghĩa bảo thủ MAGA lên đến đỉnh cao sức mạnh. Biden đã không cứu được linh hồn của nước Mỹ, như ông đã hứa khi vận động tranh cử vào năm 2019. Giờ đây, Trump – người mạnh dạn tuyên bố rằng ông sẽ giành lại quyền kiểm soát Kênh đào Panama – sẽ tận hưởng thêm bốn năm quyền lực chính trị, được khuyến khích nhờ việc giành được cả phiếu phổ thông lẫn phiếu ở mọi tiểu bang dao động.

Trong bốn năm tới, và có lẽ là trong bốn thập kỷ tới, Đảng Dân chủ vẫn sẽ chật vật để bảo vệ hồ sơ lập pháp và chương trình nghị sự chính sách mà họ đã dày công xây dựng.

Julian E. Zelizer là giáo sư lịch sử và công vụ tại Đại học Princeton. Ngày 14/01 sắp tới, Columbia Global Reports sẽ xuất bản cuốn sách mới của ông, “In Defense of Partisanship.”

Nguyễn Thị Kim Phụng dịch 

Bài thứ hai:

Trần Trung Đạo: Tổng thống Jimmy Carter khuyên Đặng Tiểu Bình không nên đánh Việt Nam

Chưa đầy hai tháng nữa là thời điểm đánh dấu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Cộng năm 1979. Trước khi cất quân, Đặng Tiểu Bình thực hiện một chuyến công du từ Á sang Mỹ để tìm đồng minh và thu phục sự đồng tình. Tại Á Châu, ngoại trừ Singapore, các quốc gia Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Nepal đều ủng hộ Đặng. Tổ chức ASEAN cũng lên án Việt Nam xâm lăng Kampuchea.

Nhưng viếng thăm Mỹ là chuyến viếng thăm quan trọng nhất của họ Đặng. Tại Mỹ, Đặng Tiểu Bình gặp Tổng thống Jimmy Carter cả thảy ba lần.

Chiều ngày 29 tháng Giêng, Đặng Tiểu Bình và phái đoàn gồm Ngoại Trưởng Hoàng Hoa, Thứ trưởng Ngoại Giao Zhang Wenjin đến gặp Tổng thống Carter tại Tòa Bạch Ốc. Phía Mỹ, ngoài Tổng thống Carter còn có Phó Tổng Thống Walter Mondale, Ngoại Trưởng Cyrus Vance và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Zbigniew Brzezinski. Trong buổi họp, Đặng Tiểu Bình thông báo cho Tổng thống Mỹ biết Trung Cộng đã quyết định chống lại sự bành trướng của Liên Xô bằng cách tấn công Việt Nam và cần sự ủng hộ của Mỹ.

Trái với mong muốn của Đặng Tiểu Bình, Tổng thống Carter không trả lời ngay. Phía Trung Quốc lầm tưởng việc không trả lời là một cách ủng hộ ngầm. Thật ra Tổng thống Carter muốn trả lời tại buổi họp trọng tâm của chuyến viếng thăm vào sáng hôm sau.

Sáng ngày 30 tháng Giêng 1979, họ Đặng gặp Tổng thống Carter lần nữa. Lần này, ngoài các vấn đề kinh tế chính trị, Tổng thống Jimmy Carter còn đặt vấn đề Hoa Kiều tỵ nạn tại Trung Quốc. Với bản tính nhân hậu, Tổng thống Carter không chỉ lo lắng cho số phận người Việt đang hay sắp tìm cách rời Việt Nam mà còn lo lắng cho cả những người Việt gốc Hoa. Tổng thống Carter muốn họ Đặng tiếp nhận thêm Hoa Kiều.

Tổng thống Carter hỏi họ Đặng: “Liệu có khả năng Trung Quốc tiếp nhận thêm người tỵ nạn Trung Quốc rời khỏi Việt Nam không?”

Đặng Tiểu Bình từ chối. Ông ta viện lý do tại Trung Quốc hiện đang có 200,000 người từ Việt Nam chạy sang và Trung Quốc cũng chưa có việc làm đầy đủ. Họ Đặng nói: “Rất nhiều người tỵ nạn thực sự là những phần tử xấu ở Việt Nam – những người không làm việc hoặc thậm chí là côn đồ – và những người thực sự làm công việc lương thiện đều bị bỏ lại phía sau.”

Tổng thống Carter cho họ Đặng biết vào thời điểm đó Hoa Kỳ đã nhận 180,000 người tỵ nạn.

Trước đó, lúc 9:05 sáng, khi hai phái đoàn vừa gặp nhau, Tổng thống Carter yêu cầu thông dịch viên đọc trực tiếp lá thư của ông gởi với Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình liên quan đến việc Trung Quốc xâm lăng Việt Nam. Nội dung lá thư viết tay của Tổng thống Carter như sau:

Washington, ngày 30 tháng 1 năm 1979

Gởi Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình

Phó Thủ tướng hỏi ý kiến tôi về một cuộc tấn công trừng phạt có thể xảy ra đối với Việt Nam. Tôi nghĩ đó sẽ là một sai lầm nghiêm trọng vì những lý do sau:

a) Nếu mục đích của cuộc tấn công là nhằm gián đoạn hoạt động xâm lược của Việt Nam hiện nay ở Kampuchea thì mục đích đó sẽ khó thành công. Một hành động mang tính cách biểu hiện như thế sẽ không được xem là một “trừng phạt” đáng kể.

b) Hai hình ảnh, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa hòa bình và một Việt Nam xâm lược tàn bạo sẽ bị hoán đổi. Hiện nay, lần đầu tiên, Việt Nam bị hầu hết các quốc gia trên thế giới lên án. Liên Xô và Cuba được coi như là đồng phạm.

c) Kết quả lâu dài của sự lên án này của Liên hợp quốc và trên toàn thế giới sẽ gây một số tác động bất lợi đáng kể đối với Việt Nam với điều kiện các quốc gia công nghiệp phát triển nỗ lực phối hợp một cách nhịp nhàng để cắt giảm viện trợ kinh tế và các nước “phi liên kết” thực hiện hành động của Liên Hợp Quốc và kêu gọi các biện pháp trừng phạt.

d) Một sự kiện nghiêm trọng có thể leo thang thành xung đột khu vực.

e) Các kế hoạch cho một hành động giới hạn và ngắn hạn có thể phải bị hủy bỏ nếu Trung Quốc bị đưa ra tối hậu thư để rút quân. Điều này sẽ làm cho việc rút quân trở nên rất khó khăn.

f) Xung đột võ trang do Trung Quốc phát động sẽ tạo nên sự lo ngại nghiêm trọng ở Hoa Kỳ liên quan đến tính cách chung của Trung Quốc và giải quyết hòa bình trong tương lai của vấn đề Đài Loan. Tuyên bố chung của chúng ta về hòa bình và ổn định có được từ quá trình bình thường hóa sẽ bị phủ nhận ở một mức độ nào đó.

g) Người Kampuchia dường như đang chiến đấu hiệu quả hơn mong đợi với tư cách là những chiến binh du kích.

h) Những đe dọa về biên giới của Trung Quốc có thể gây ra vấn đề cho Việt Nam ngay cả khi không xâm nhập vào Việt Nam.

i) Hành động của Trung Quốc có thể tạo thêm một cái cớ cho sự hiện diện nhiều hơn của Liên Xô ở Việt Nam.

Vì những lý do này, Hoa Kỳ không thể ủng hộ hành động như vậy và tôi thực sự mong Phó Thủ tướng cũng không theo đuổi nó.

Thưa Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình, trong quan điểm của tôi, một nỗ lực phối hợp thông qua Liên Hợp Quốc hoặc các diễn đàn quốc tế khác có thể gây tổn hại nhiều hơn cho Việt Nam và các đồng minh của họ.

Trân trọng,

Jimmy Carter

(Nguồn: Carter Library, National Security Affairs, Staff Material, Office, Outside the System File, Box 47, China: President’s Meeting with Vice Premier Deng: 1–2/79. Top Secret. According to the President’s Daily Diary, this meeting took place in the Oval Office with Deng and the Chinese interpreter, Ji Chaozhu, from 9:05 to 9:40 a.m. (Carter Library, Presidential Materials))

Đặng Tiểu Bình lắng nghe không ngắt lời người thông dịch.

Sau khi nghe xong, Đặng Tiểu Bình trả lời rằng Trung Cộng vẫn sẽ “trừng phạt Việt Nam giới hạn” để ngăn chặn Liên Xô trong việc sử dụng Cuba, Việt Nam và rồi Afghanistan như những chư hầu. Nhưng để vớt vát, Đặng Tiểu Bình yêu cầu Mỹ viện trợ cho các lực lượng chống CSVN qua trung gian Thái Lan.

Tổng thống Carter hỏi lại liệu Thái Lan có đồng ý không, Đặng Tiểu Bình trả lời Thái đã đồng ý. Đặng Tiểu Bình thất bại trong mục đích được Mỹ công khai ủng hộ nhưng thành công trong các mục đích nhỏ khác như được Mỹ hứa cung cấp tin tức tình báo và đóng góp cụ thể hơn trong việc giúp phe chống CSVN tại Cambodia. Cáo già Cộng sản Đặng Tiểu Bình không đi Mỹ để đánh bạc theo kiểu được ăn cả ngã về không mà được phần nào cũng tốt. (Foreign Relations of the United States, 1977–1980, Volume XIII, China)

Để hiện đại hóa Đặng Tiểu Bình biết Trung Cộng phải dựa vào Mỹ. Sau bình thường hóa với Mỹ, một kỷ nguyên hợp tác Mỹ-Trung Cộng đã phát khởi với các phát triển kinh tế vượt bực mà thế giới coi là “Trung Quốc Kỳ Diệu” ( China Miracle) với mức gia tăng trung bình 9.5% từ 1978 đến 2003.

Đặng Tiểu Bình và Jimmy Carter tại lễ đón tiếp chuyến thăm Hoa Kỳ của Đặng (1979). Hình chụp ngày 29/1/1979.

Lịch sử thời cận đại cho thấy Trung Cộng chưa bao giờ có một đồng minh chiến lược thật sự. Đi với Mỹ để hiện đại hóa và khi được hiện đại hóa Trung Cộng xoay trở lại chống Mỹ. Mỹ nuôi lớn kẻ thù.

Giáo sư Sergey Radchenko, nhà nghiên cứu tại Woodrow Wilson Center for International Scholars nhận xét rằng Carter và nhóm an ninh quốc gia của ông hy vọng một ngày Trung Quốc sẽ trở nên dân chủ và cởi mở hơn.

Không chỉ Tổng thống Jimmy Carter mà cả Tổng thống Ronald Reagan cũng nghĩ thế. Trong diễn văn đọc tại Venice Economic Summit 1987, Tổng thống Ronald Reagan tuyên bố rằng: “Khi thị trường tự do tiếp thêm sinh lực cho châu Á, các cuộc bầu cử tự do lan rộng khắp Trung và Nam Mỹ. Ở châu Phi, nhiều nhà lãnh đạo đã đồng ý rằng tự do là chìa khóa của sự phát triển. Ở Trung Quốc, đổi mới có nghĩa là hương vị tự do mà hơn 1 tỷ người được nếm lần đầu.” (Public Papers of the Presidents of the United States: Ronald Reagan, 1987)

Thật ra lý luận xung đột quyền lợi vật chất và tinh thần giữa các thành phần xã hội dẫn đến cách mạng như trường hợp Cách Mạng Pháp 1789, không sai nhưng thời gian để các mâu thuẫn chín muồi khác rất xa trong mỗi thời kỳ văn minh của loài người. Thời đại ngày nay với nền kinh tế toàn cầu hóa và các quan hệ kinh tế phức tạp, phụ thuộc vào nhau sâu sắc, các mâu thuẫn đối kháng cần rất lâu để triệt tiêu nhau.

Mỹ học một bài học dài trên 45 năm, nhưng học để làm gì, liệu có thay đổi được gì không?

Câu trả lời là có. Thế giới chưa tận diệt và cuộc đấu tranh giữa thiện và ác sẽ còn tiếp tục. Julius Caesar không phải là nhà độc tài đầu tiên và Tập Cận Bình không hẳn là nhà độc tài cuối cùng. Những bài học được học và những chọn lựa mới sẽ được chọn. Mỗi giai đoạn trong lịch sử nhân loại luôn có những thách thức mới của thời đại và luôn có những con người mới để lãnh đạo thời đại của mình. Nước Anh có một Neville Chamberlain yếu mềm nhưng ngay sau đó có một Winston Churchill cứng rắn bước ra thay thế.

Trục xung đột của thế giới đang chuyển về hướng Á Châu nhưng vì các mối quan hệ kinh tế toàn cầu phức tạp còn khá sớm cho những thay đổi lớn.

Sự bành trướng của Trung Cộng đặt Nhật Bản vào thế sớm hay muộn cũng phải tái võ trang để bảo vệ quyền lợi của họ tại Á Châu nhưng với ngân sách quốc phòng tài khóa 2025 sẽ là 55 tỷ dollar, quân đội Nhật vẫn còn là một quân đội nặng về phòng thủ.

Năm 2024 Ấn Độ gia tăng ngân sách quốc phòng lên tới 75 tỷ dollar đứng hàng thứ ba thế giới sau Mỹ và Trung Cộng nhưng chính sách ngoại giao của Ấn Độ từ thời thành lập nền Cộng Hòa 1947 cần phải thay đổi để cứng rắn và dứt khoát hơn khi đáp ứng các thách thức mới từ Trung Cộng.

Biển Đông và Đài Loan sẽ là hai điểm nóng trong Chiến Tranh Lạnh Á Châu.

Khó có thể trả lời bao giờ hay khi nào số phận của 4.7 tỷ người sống trên các lục địa Á Châu sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ xung đột võ trang do Trung Cộng gây ra. Nhưng chắc chắn thảm họa sẽ đến.

Những bài học từ hai cuộc thế chiến cho thấy, nếu có chuẩn bị, một quốc gia có thể thoát ra hay ít bị ảnh hưởng hơn các quốc gia khác. Ngược lại, nếu các nhà lãnh đạo chỉ vì tầm nhìn quá hẹp, vì tham vọng quyền lực, vì quyền lợi đảng phái, vì nồi cơm chén gạo của cá nhân, gia đình mà không thực hiện các thay đổi cấp bách, đất nước sẽ rơi vào vực thẳm.

Trần Trung Đạo

Thủ bút lá thư của Tổng thống Jimmy Carter gởi Đặng Tiểu Bình. Ảnh tư liệu
 
Tang lễ cựu Tổng thống Jimmy Carter
 image

Trong bài điếu văn, Tổng thống Dân chủ Joe Biden đã ca ngợi vị tổng thống thứ 39, người đã qua đời vào ngày 29/12 năm ngoái ở tuổi 100. 


Ông Biden nói rằng cuộc đời của ông Carter là ‘câu chuyện về một người đàn ông không bao giờ để những cơn sóng chính trị đẩy ông khỏi sứ mệnh phục vụ và định hình thế giới’.

“Một người có nhân cách,” ông Biden nói. “Ông cho chúng ta thấy nhân cách và niềm tin bắt đầu từ chính chúng ta và sau đó lan tỏa đến người khác như thế nào.”

image


Hàng chục ngàn người dân Mỹ trong hai ngày qua đã xếp hàng dài qua Điện mái vòm trong Điện Capitol để tỏ lòng tôn kính với ông Carter. 


Nhiều người ca ngợi ông như một tấm gương về sự đứng đắn và khiêm tốn cho các chính trị gia ngày nay vốn hết sức mang tính đảng phái.


Cố Tổng thống Carter sẽ được chôn cất ở Plains

image

“Tôi chưa bao giờ thấy có sự khác biệt giữa gương mặt công khai và gương mặt riêng tư của ông. Ông vẫn là cùng một người bất kể ông ở với ai hoặc ở đâu, và đối với tôi, đó là định nghĩa của sự chính trực. Sự trung thực đó đã nhận được sự thương yêu tương ứng,” Jason Carter nói thêm.

image

Ái nữ của ông Carter, Amy, đã tham gia cùng các thành viên khác trong gia đình trong tang lễ. Thủ tướng Canada Justin Trudeau, Phó Tổng thống đắc cử JD Vance và con trai Tổng thống Biden, Hunter Biden, cũng nằm trong số những người dự lễ tang. Các cựu phó tổng thống Al Gore và Mike Pence ngồi cạnh nhau.


image


Ông Jimmy Carter đã giành được Nhà Trắng sau khi đánh bại Tổng thống Cộng hòa Gerald Ford trong cuộc bầu cử năm 1976. Hai vị tổng thống vốn từng là đối thủ chính trị một thời tiến tới trở thành bạn vong niên, và ông Carter đã ca ngợi ông Ford sau khi ông qua đời vào năm 2006.
Con trai của ông Ford, Steven, đã đọc một điếu văn tại tang lễ mà thân phụ ông đã viết sẵn cho ông Carter trước khi ông qua đời.
image

“Jimmy và tôi tôn trọng nhau khi là đối thủ ngay cả trước khi chúng tôi tôn trọng nhau như những người bạn thân,” Ford đọc lại lời của thân phụ. “Jimmy biết những điểm yếu chính trị của tôi và ông ấy đã chỉ ra được. Bây giờ tôi không thích điều đó, nhưng tôi không hề biết rằng kết quả của cuộc bầu cử tổng thống năm 1976 sẽ đem đến một trong những tình bạn sâu sắc và lâu dài nhất của tôi.”