Chúng tôi theo xe hàng từ Phnom Penh lên cảng Kampong Som, trễ mất gần hai tiếng đồng hồ. Ngày đã xế, nhưng nắng còn đổ lửa trên đầu. Trời đứng gió, cái nóng hừng hực như hắt ra từ lò sấy. Người dẫn mối cứ thôi thúc nhanh lên, nhanh lên. Đồ đạc cái xách cái mang tất tả đến được điểm hẹn, chúng tôi mệt phờ người. Ba gã chủ chốt người Miên còn kiên nhẫn chờ trên đầu dốc nơi ngã ba đường lên chợ, dưới bóng râm của một tàng cây. Hai gã ngồi trên hai chiếc xe Honda, phì phà điếu thuốc. Gã thứ ba đứng dựa lưng vào gốc cây. Thấy chúng tôi tới, họ bu lại vồn vã, cùng lúc những chiếc xe đò cổ lỗ xỉ ì ạch bò lên dốc. Khói xe và hơi nóng phả vào mặt. Đây là lần đầu tiên tôi gặp họ. Người dẫn mối giới thiệu chúng tôi bằng tiếng Miên. Họ cũng tự giới thiệu lại mình. Một gã tên Nu da xám, môi chì, mắt trắng, nói thạo tiếng Việt. Hai gã kia chỉ nói tiếng Miên, tên khó nhớ. Gã tóc quăn, có bịt răng vàng. Giữa cái răng vàng cẩn hình trái tim. Gã thứ ba mặt mày sáng sủa đẹp trai, Tàu lai Miên. Tất cả, trạc tuổi ngoài ba mươi, mặc đồ chải chuốt lịch sự, tư cách đàng hoàng đáng tin cậy.
Monday, January 13, 2025
Đi Giữa Bầy Thú Dữ
Sunday, January 12, 2025
TỈNH PHƯỚC LONG
Nó nằm phía sau khu công xưởng phụ của Ty Công Chánh, hướng về phía Hồ Long Thủy.
Số 1 là Tòa Hành Chánh.
Số 2 là Ty Cảnh Sát Quốc Gia.
Số 3 là Bệnh Viện Phước Long.
Số 4 là nhà thờ tỉnh lỵ Phước Long.
Số 5, hai căn nhà dài là Trường Tiểu Học Cộng Đồng Phước Long.
Phía bên trái là khu vực Ty Tiểu Học.
Sau Ty Tiểu Học là Trạm Quân Y Diện Địa. Nơi đây chẩn bệnh và phát thuốc cho cả quân nhân lẫn thường dân.
Số 6 là Hội Trường và Ấu Trĩ Viên dành cho trẻ em, có vườn và khu vực vui chơi.
Số 7 là Chợ Phước Long và bến xe.
Số 8 là Hồ Long Thủy.
Sớ 9 là Ty Công Chánh và Cư Xá Công Chánh.
Số 10 là khu vực các Ty Kiến Thiết, Ty Điền Địa, Ty Canh Nông, Ty Thanh Niên.
Số 11 là Trường Trung Học Phước Long. Trường này được xây vào năm 1968 để thay Trường Nhất Linh bị bỏ phế vì hư hại nặng trong biến cố Mậu Thân.
Số 12 là Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long.
Số 1 là Tòa Hành Chánh.
Số 2 là Ty Cảnh Sát Quốc Gia.
Số 3 là bãi đậu dành cho phi cơ quan sát L-19.
Số 4 là Bệnh Viện Phước Long.
Người chụp hình này đứng trên khu đất thuộc Ty Canh Nông Phước Long. Từ thời 1957, 1958, người ta trồng trọt các loại hoa màu như đậu phộng, đậu nành trên khu đất này.
Xa xa là Nhà Thờ Phước Long. Phía sau là căn nhà tôle hai tầng. Tầng dưới là nơi tiếp khách và một phòng giải trí.
Ở tầng trên, đầu bên trái là phòng của linh mục chánh xứ. Ở giữa là phòng dành cho khách. Đầu bên phải là phòng ngủ dành cho bọn giúp lễ chúng tôi.
Phía sau có một căn nhả nhỏ khá dài. Đây là khu nhà kho, nhà bếp và nhà ăn.
Tại nhà xứ này, tôi đã gặp nhiều nhân vật như Dân Biểu Nguyễn Bá Lương, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện, và Đại Tá Phạm Quốc Thuần, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Kiêm Tư Lệnh Khu 32 Chiến Thuật.
Cũng tại nơi này, tôi còn gặp hai vị trung tá của Sư Đoàn 5 Bộ Binh mà sau này là Cố Chuẩn Tướng Lý Đức Quân và Cố Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Ngày nầy, năm 1975 * Tiểu Tử
Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật ! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…
Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình : ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ « cái ngày đó » nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già , tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…
*****
…Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Singapore vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu. Các bạn tôi
trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền nam, từ kho Nại Hiên Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…
Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi còm-măng Singapore một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Navy Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sàigòn để cập kho Nhà Bè !
Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bày ngày tác chiến của không quân. Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời :« Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút ! ». Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là « Xếp » – nhờ hay đi họp chung. Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói :” Bonjour ! çà va ?” ( Chào ông ! Mạnh hả ?)
Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa !
Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết :« Rất tiếc ! Chúng tôi không giúp được ! Thôi ! Chúng tôi về ! ». Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp :« Allez vous en ! » ( Ông hãy đi, đi ! ) Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng ” Allez vous en ! ” (Ông hãy đi, đi ! ) …
Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì « họ » dán…đầy đường cái nhãn « hai bàn tay nắm lấy nhau » để chứng tỏ sự thật tình « khắn khít », rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng « thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình » !
Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng :«Chánh quyền Mỹ từ chối ! ». Sau đó, tôi đánh điện qua Singapore, cũng chỉ bằng một câu :« Không có hộ tống ». Họ trả lời ngay :« OK ! Good Luck ! » ( Nhận được ! Chúc may mắn ! ) Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xót !
Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên :« Sao về vậy anh ? ». Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc . Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc :« Ờ…Khóc đi anh ! Khóc đi ! »
Ngày đó, tháng tư năm 1975… Đúng là ngày nầy !
Chuyện thuở giao thời
Tháng 3, rồi tháng 4 năm 1975, thiên hạ chạy di tản rần rần từ miền trung vào trong nam, rồi từ đất liền “chạy” ra biển, nhốn nháo hỗn loạn chẳng biết “trời trăng” gì hết,.. chỉ có một ý nghĩ rõ rệt ở trong đầu là “Ở lại với tụi nó là chết !”. Vậy rồi giai đoạn di tản đó chấm dứt vào ngày 30 tháng 4……
Giữa tháng 4, một thằng bạn gọi điện thoại cho tôi, nói: “Mầy đừng đi di tản. Ở lại đi ! Không có sao hết ! Tao bảo đảm“. Thằng nầy làm lớn trong “Tổng Nha”, nó nói “chắc như bắp” ! Lại một thằng bạn khác – thằng này người Pháp, làm việc ở sứ quán Pháp – nói trong điện thoại, giọng rất bình thản: “Mầy đừng đi đâu hết ! Mọi việc đều đã thoả thuận trước rồi ! Yên tâm !“. Riêng tôi, tôi nghĩ: “Mình làm việc cho hãng dầu ngoại quốc trực thuộc hãng quốc tế SIPC ( Shell International Petroleum Company – Anh Quốc ) chắc không sao ! “. Vậy là tôi quyết định ở lại……
Ngày 30 tháng tư năm 1975 ! Việt cộng vào “đớp” hết, công tư gì cũng đớp hết, thượng vàng hạ cám gì cũng đớp hết. Họ gọi hành động đó bằng một danh từ nghe cũng… văn chương: “Tiếp Quản“. Không biết hai thằng bạn tôi kể ở trên có… tức hộc máu hay không khi thấy mình bị gạt dễ dàng như con nít ? Riêng tôi, tôi thấy như tôi từ trên trời rơi xuống, thấy những gì xưa nay mình học, mình hỏi, mình hiểu biết, mình suy luận v.v… đều sai bét đối với “cái gọi là cách mạng” !
Hãng dầu tôi làm việc bị tiếp thu bởi… “ê-kíp” có bí số K7. Những người nầy mặc đồ đen đội mũ tai bèo đen. Mấy tay có vẻ “xếp” mang túi dết ngang hông và bao súng lục nằm… sau đít ! Họ chiếm kho dầu Nhà Bè và văn phòng trung ương ở đường Thống Nhứt. Hai hôm sau, có tin bộ đội vào kho Nhà Bè “vít” K7 ra ngoài, vì kho dầu không thuộc quyền quản lý của mấy cha K7.
Vậy là trong cái tổ chức rất là… “cách mạng” nầy, cái “đầu não” của công ty không còn dính với cái thân mình là kho dầu nữa ! Phải nói thiệt : tôi làm việc cho hãng dầu hơn 19 năm, đã đi thăm viếng nhiều hãng dầu ở các quốc gia khác, nhưng chưa thấy một tổ chức hãng dầu nào… khùng như vậy !Qua sáng ngày thứ ba, tôi được chở xuống kho Nhà Bè để hướng dẫn một ông tướng VC đi viếng kho (Có lẽ mấy tên “nằm vùng” đã cho bọn “cách mạng” biết rằng tôi… rành kho dầu này lắm ! ) Đến kho, tôi được “ông” bộ đội xếp kho cho biết ông tướng là “xếp” cục hậu cần. Tôi tưởng tượng sẽ gặp lão ta với bộ quân phục thẳng nếp và một ngực mề đai như thường thấy ở mấy tướng các nước cộng sản !…Xe ông tướng đến. Bước xuống là một người cao lớn mặc bộ đồ “xá xẩu” tàu bằng lụa màu ngà, đội nón Panama trắng, miệng ngậm ống đót có điếu thuốc đang cháy dở. Được giới thiệu, ông ta không bắt tay tôi, chỉ gật nhẹ đầu, nói: “Ta đi thôi !”. Tôi lưu ý ông ta đừng hút thuốc trước khi vào kho. Ổng gạt bỏ mẫu thuốc nhưng vẫn ngậm ống đót trên môi…
Kho Nhà Bè lớn lắm. Ngoài bốn cầu tàu chiếm hết mặt sông, trên bờ có khu bồn chứa và các khu nhà máy trộn nhớt, trộn hoá chất, sản xuất thùng thiếc 20 lít đựng dầu hôi, châm dầu vào thùng 200 lít, nhà máy nhựa đường.v.v… “Phái đoàn” đi viếng gồm có ông tướng, hai người hộ vệ và xếp kho. Vì kho dầu không làm việc nên tôi chỉ đưa họ đi… phớt phớt vòng ngoài các khu nhà máy. Tôi có ý đợi họ đặt câu hỏi, nhưng không nghe cha nào nói một tiếng. Sau nầy, tôi mới biết rằng ngoài bắc không có những gì chúng tôi có ở trong nam, cho nên họ không biết… khỉ gì để mà hỏi
Đến khu bồn chứa, bỗng ông tướng chỉ một cái bồn, hỏi: “Cái bể nầy bao nhiêu khối ? “. Tôi trả lời: “Mười lăm ngàn m3“. Hỏi: “Mỹ nó làm cho các anh đấy à ? “. Trả lời: “Không có thằng Mỹ nào vô đây hết ! Toàn là dân Việt Nam thực hiện“. Nghe vậy, lão ta cười khẫy: “Làm gì có ! Ở ngoài ta, trên 2000 khối là phải ông Liên Xô hay ông Trung Quốc thực hiện cơ ! “. Cái cách thằng chả nghi ngờ lời tôi nói đã chạm mạnh tự ái của tôi, đồng thời cũng cho tôi thấy rằng miền bắc của mấy chả nó dở ẹc hà ! Tôi nhấn mạnh: “Tất cả ba mươi mấy cái bồn nầy, lớn nhỏ gì cũng do nhà thầu thực hiện với thầy thợ hoàn toàn người Việt“. Tôi đưa mấy người đến xem cái bồn mới làm xong cách đây mươi hôm. Đó là cái bồn lớn nhứt kho Nhà Bè, 30000 m3, do nhà thầu Việt Nam EVS thực hiện, nó lớn bằng nửa cái sân banh !
Từ đó, mấy chả làm thinh luôn cho đến về văn phòng để họp với mấy anh em cấp chỉ huy cũ theo ý muốn của ông tướng ! Sau khi nghe mấy anh em lần lượt trình bày lý lịch, cấp bậc, phần việc và lương bổng của mình, ông tướng nói : “Các anh yên tâm : Đảng và Nhà Nước sẽ trả lương các anh y như cũ. Cứ yên chí phục vụ ! “. Nghe giọng ông ta rất tin tưởng vào những gì ổng nói, mình cũng thấy tin tưởng theo… …Thời gian sau, hãng dầu đường Thống Nhứt được mang tên “Công Ty Xăng Dầu Khu Vực Hai“. Hỏi “Khu Vực Một” ở đâu thì được trả lời “Chưa có, nhưng đã có Tổng Công Ty ở Hà Nội” ! Cách mạng có khác
Rồi là “xếp thang lương“, nghĩa là mỗi ngành mỗi nghề đều được xếp cấp bậc trên từng thang lương, từ đó lãnh lương mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ nửa lương. Tôi được xếp “kỹ sư bậc 2 trên 6“, nghe… khoẻ re. Thang lương có 6 bậc mà mình nằm gần trên đĩnh rồi, họ cũng biết… chấm điểm đó chớ ! Ai dè khi lãnh lương mới… té ngửa: mấy chả xếp thang lương ngược, hạng nhứt là bậc 6 nằm trên hết, rồi tuột lần xuống dưới chót là hạng một. Tôi bậc 2 trên 6, là hạng… áp chót ! Mẹ !…Tôi lãnh 80 đồng tiền mới (Vậy là thằng cha tướng Tổng Cục Hậu Cần đã nói láo ! ) Bực mình, chạy đi gặp thủ trưởng, ảnh nói: “Trời đất ! Bác Hồ chủ tịch nước mà chỉ lãnh có 200 đồng. Còn anh, anh lãnh tới 80 đồng còn muốn gì nữa ? “. Thấy thằng chả đem “Bác Hồ” ra… làm chứng, tôi biết có cãi cũng vô ích. Rồi tôi nhớ ra là anh tài xế cũ của tôi bây giờ lãnh 90 đồng, tôi… đánh đòn chót: “Vậy thôi anh cho tôi làm tài xế, đi ! “. Thằng chả cười, thấy như tôi sao quá khùng, nên vừa lắc đầu vừa trả lời: “Đâu được ! Anh là Kỹ Sư đâu làm tài xế được ! “. Tôi làm thinh, bước ra khỏi văn phòng thủ trưởng mà thấy như mình từ trên trời rơi xuống !
…Tôi “chịu trận” với cái gọi là “cách mạng” hết ba năm. Vượt biên thất bại hết ba lần, qua lần thứ tư đi thoát, để bây giờ – ba mươi mấy năm sau – ngồi viết mấy dòng nầy nhân ngày 30 tháng tư thứ 37… mà thấy không phải tôi đã từ trên trời rơi xuống, chính mấy thằng cha “cách mạng” mới là từ trên trời rơi xuống !
Jimmy Carter và cái giá của tổng thống một nhiệm kỳ - Tổng thống Jimmy Carter khuyên Đặng Tiểu Bình không nên đánh Việt Nam - Tang Lễ Cựu Tổng Thống Jimmy Carter
Cựu Tổng thống Jimmy Carter, người đã qua đời vào ngày 29/12/2024 ở tuổi 100, đã bị đánh giá thấp kể từ khi ông rời nhiệm sở vào tháng 1/1981. Trên thực tế, Carter là hình mẫu cho những gì một tổng thống một nhiệm kỳ có thể làm được. Trong thời đại mà hầu hết người Mỹ coi trọng giá trị của chiến thắng hơn bất kỳ điều gì khác, Carter đã chứng minh rằng một vị tổng tư lệnh sẵn sàng đốt cháy vốn chính trị và tập trung vào các mục tiêu cao cả thay vì lợi ích ngắn hạn có thể làm được những điều tuyệt vời cho quốc gia và thế giới.
Điều này có thể nghe lạ lùng đối với chúng ta ngày nay, nhưng kỹ năng của Carter trong vai trò nhà lãnh đạo và chính trị gia rất đáng gờm. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1976, vị cựu thống đốc Georgia vô danh đã đánh bại một số đối thủ nổi tiếng trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ và sau đó tiếp tục đánh bại Tổng thống đương nhiệm Gerald Ford.
Từ năm 1977 đến năm 1981, Carter đã đàm phán một thỏa thuận hòa bình lịch sử giữa người Ai Cập và người Israel – một thỏa thuận vẫn tồn tại cho đến ngày nay; đưa chủ nghĩa môi trường vào chương trình nghị sự chính trị ở thời điểm mà hầu hết các quan chức được bầu đều không coi vấn đề này là trọng tâm, bao gồm cả việc thông qua Đạo luật Bảo tồn Đất đai vì Lợi ích Quốc gia Alaska năm 1980; và nâng cao quyền con người trong chính sách đối ngoại thông qua những thay đổi quan trọng đối với Bộ Ngoại giao, tất cả đều nhận được sự đánh giá cao từ các nhà viết tiểu sử như Jonathan Alter và Kai Bird.
Cho đến nay, Hiệp ước Trại David vẫn là một trong số ít đột phá ngoại giao ở Trung Đông, và việc Carter bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1979 từ lâu đã được xem là một thành phần quan trọng trong việc làm tan băng Chiến tranh Lạnh. Hơn nữa, việc Carter ủng hộ các luật có đạo đức là liều thuốc tiên chữa lành vết thương của Watergate, cũng như những nỗ lực của ông nhằm tước bỏ “chế độ tổng thống chuyên quyền” (imperial presidency) bằng cách cắt giảm quy mô của thể chế này. Ví dụ, Carter đã loại bỏ một số nghi lễ, chẳng hạn như yêu cầu không phát bài “Hail to the Chief” khi ông bước vào phòng.
Tuy nhiên, nhiệm kỳ tổng thống của Carter cũng chứa đựng những câu chuyện cảnh giác. Dù giá trị của các chính quyền tổng thống một nhiệm kỳ như Carter cần được nghiên cứu và ca ngợi, nhưng cái giá khổng lồ khi thất bại trong việc củng cố và bảo vệ đảng chính trị đóng vai trò nền tảng cho nhiệm kỳ của vị tổng thống đó cũng cần được lưu tâm.
Cuối cùng thì, bất chấp mọi thành công, Carter đã khiến Đảng Dân chủ rơi vào thế yếu vào năm 1980, và mở cánh cửa vào Phòng Bầu dục cho một phong trào bảo thủ sẽ tiếp tục làm suy yếu các ý tưởng và chính sách quan trọng nhất của ông cho đến tận ngày nay.
Chính trị đảng phái theo kiểu cũ chưa bao giờ là vùng an toàn của Carter. Ngay từ đầu, ông đã phải vật lộn để duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Dân chủ tại Đồi Capitol. Nhiều đảng viên Dân chủ trong Quốc hội không tin tưởng ông và cho rằng thông điệp chống Washington của ông là có hại.
Trước khi nhậm chức, Carter đã có một cuộc trao đổi căng thẳng với Jack Brooks, Hạ nghị sĩ Dân chủ Texas, vào tháng 12/1976. Brooks, Chủ tịch Ủy ban Hạ viện về Hoạt động Chính phủ, đã lắng nghe khi tổng thống đắc cử giải thích cách ông dự định đề xuất một đạo luật vốn sẽ mở rộng thẩm quyền của mình, từ đó sáp nhập và thu hẹp các cơ quan liên bang nhằm theo đuổi hiệu quả cao hơn. Brooks đã cảnh báo tổng thống mới rằng Quốc hội sẽ không nhượng bộ thẩm quyền này cho ông. Nhưng Carter quyết không nhân nhượng. Căng thẳng trong phòng lên cao đến mức một trong những cố vấn hàng đầu của tổng thống, Bert Lance, đã phải can thiệp.
Quan hệ không mấy tốt đẹp với Đảng Dân chủ trong Quốc hội tiếp tục cản trở Carter tại thời điểm đang có một chính phủ thống nhất. Người liên lạc với Quốc hội thay mặt Tổng thống, Frank Moore, đã liên tục mắc sai lầm, làm xói mòn lòng tin đối với chính quyền mới ở cả Hạ viện và Thượng viện.
Có những sai lầm nhỏ nhặt, chẳng hạn như khi đội ngũ của Carter quyết định phục vụ bánh cuộn ngọt trên đĩa giấy, thay vì một bữa sáng đầy đủ tại một trong những cuộc họp đầu tiên của ông với các đảng viên Dân chủ từ Đồi Capitol. Các cuộc gọi điện thoại không được hồi đáp, và nhân viên của ông dường như không biết cách thức hoạt động của Washington. Trong một lần khác, đội ngũ của Moore đã không báo trước cho một nhà lập pháp của Đảng Dân chủ rằng tổng thống sẽ đến thăm quận của ông. Carter cũng chẳng giúp ích gì khi ông liên tục phản đối gần 300 dự án nước vào năm 1977 như một phần trong đề xuất ngân sách của mình, xem chúng là không cần thiết, theo đó làm phật lòng nhiều đảng viên Dân chủ cấp cao trong Quốc hội, những người đang trông chờ vào khoản chi tiêu đó.
“Họ chạy đua chống lại Washington, rồi trở thành một phần của Washington, nhưng lại không được trang bị về mặt tâm lý cũng như kỹ thuật để đối mặt với điều đó,” một hạ nghị sĩ của Đảng Dân chủ phàn nàn với tờ New York Times.
Cũng có những vấn đề lớn hơn, do chính Tổng thống Carter gây ra cho đảng của mình trong lúc theo đuổi một chương trình nghị sự tự do phi chính thống, hậu những năm 1960. Chẳng hạn, vào năm 1977 và 1978, Đảng Dân chủ chủ yếu quan tâm đến tình trạng ảm đạm của nền kinh tế, vốn đã bị ảnh hưởng bởi sự kết hợp của nạn thất nghiệp, lạm phát, và cuộc khủng hoảng năng lượng đang diễn ra. Khi Carter quyết định rằng bảo tồn năng lượng sẽ là ưu tiên hàng đầu của mình, nhiều nhà lập pháp trên Đồi Capitol đã không hài lòng.
Một số ưu tiên của Carter đã đi ngược lại lợi ích cơ bản của những vị đại diện cho các khối cử tri muốn có nhiều nhiên liệu hóa thạch hơn để cắt giảm chi phí, và việc bảo tồn năng lượng cũng không giải quyết được những nhu cầu thiết yếu, ngắn hạn của cử tri.
Như Chủ tịch Hạ viện Tip O’Neill hồi tưởng trong một bài viết chung với William Novak trên tờ Washington Post năm 1987, “Tôi đã nhiều lần phàn nàn về đội ngũ của Kennedy, nhưng chí ít họ còn quan tâm đến các thành viên Dân chủ của Quốc hội. Thái độ của họ là: Chúng tôi muốn các bạn được tái đắc cử, và chúng tôi đang nỗ lực giúp đỡ các bạn. Nhưng dưới thời Carter, những đảng viên Dân chủ trong Quốc hội thường có cảm giác rằng Nhà Trắng thực sự đang chống lại chúng tôi.”
Khi giải quyết các vấn đề trong nước, Carter thường xuyên làm các nhóm Dân chủ cốt lõi nổi giận. Gói kích thích kinh tế của vị tổng thống đắc cử năm 1977 đã hủy bỏ khoản hoàn thuế mà ông từng hứa với cử tri trung lưu, và đưa ra một luật chủ yếu tập trung vào giảm thuế. Carter phản đối mức chi tiêu công mà Đảng Dân chủ kêu gọi nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều nhà lãnh đạo người Mỹ gốc Phi nhận thấy rằng Carter không ưu tiên nhu cầu của họ. Tổng thống cũng cản trở nỗ lực thúc đẩy bảo hiểm y tế quốc gia của Thượng nghị sĩ Massachusetts Ted Kennedy, cắt đứt mọi cuộc đàm phán với em trai của hai huyền thoại đã khuất của Đảng Dân chủ.
Các sáng kiến chính sách khác của Carter chỉ càng làm tăng tốc phong trào bảo thủ hiện đại, vốn tìm cách thúc đẩy chính trị hữu khuynh. Năm 1977, Carter quyết định trao lại quyền kiểm soát Kênh đào Panama cho người Panama, tin rằng điều này sẽ làm giảm căng thẳng nội bộ mà Tướng Omar Torrijos Herrera đang chật vật giải quyết, và nói rộng hơn, là làm giảm tình cảm tiêu cực đối với Mỹ, vốn đã hình thành trong nhiều thập kỷ ở Mỹ Latinh.
Sau khi ký hai hiệp ước liên quan, Carter đã tìm đủ mọi cách bảo vệ chúng trong quá trình phê chuẩn của Thượng viện vào mùa xuân năm 1978. Ông yêu cầu các thượng nghị sĩ ủng hộ các hiệp ước, dù chúng không được ưa chuộng, bằng cách dựa vào quan hệ cá nhân và việc đưa các thượng nghị sĩ đến kênh đào để họ có thể tận mắt chứng kiến những gì đang bị đe dọa. Carter cũng tiến hành các cuộc họp với công nghệ điện thoại mới để ông và các thành viên chính quyền có thể trình bày trực tiếp quan điểm của mình với cử tri. Cuối cùng, chính sách chính trị cứng rắn đã có hiệu quả. Vào tháng 3/1978, Thượng viện đã phê chuẩn hiệp ước đầu tiên với tỷ lệ 68 trên 32. Sang tháng 4, Thượng viện tiếp tục phê chuẩn hiệp ước thứ hai với cùng biên độ.
Vấn đề là trong lúc Carter vui mừng về thành công của mình, thì phe bảo thủ cũng vậy, dù rằng họ đã thất bại. Những nhân vật bảo thủ như Ronald Reagan hiểu rằng hầu hết cử tri Dân chủ không quan tâm đến các hiệp ước này, dù một số người đồng tình với lời chỉ trích rằng chúng sẽ là dấu hiệu của sự kém cỏi. Trong khi đó, hầu hết các thành viên cánh hữu đều phản ứng dữ dội. Những người bảo thủ lên án hành động của Carter là không yêu nước và nguy hiểm.
“Chúng ta đã xây dựng nó, chúng ta đã trả tiền cho nó, nó là của chúng ta, và chúng ta sẽ giữ nó,” Reagan lập luận về kênh đào vào năm 1976.
Các tổ chức bảo thủ đã lợi dụng sự tức giận đối với hai hiệp ước để tăng số lượng thành viên và tiền quyên góp.
“Đó chính là lòng yêu nước, và đó là việc chúng ta làm tốt nhất,” Howard Phillips của tổ chức bảo thủ The Conservative Caucus tự hào nói.
Trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1978, liên minh bảo thủ của các đảng viên Dân chủ và Cộng hòa miền Nam đã được phục hồi sau năm 1976, một phần là nhờ các hiệp ước của Carter.
Đến cuối nhiệm kỳ của Carter, Đảng Dân chủ đã rơi vào khó khăn. Họ phải chịu thiệt hại trong các cuộc thăm dò khi các thành viên đối mặt với sự trỗi dậy nhanh chóng của Reagan. Ngoài ra, trong vòng bầu cử sơ bộ, Carter cũng phải đối mặt với thách thức tàn khốc từ Thượng nghị sĩ Kennedy, người đổ lỗi cho Carter vì đã từ bỏ các giá trị cốt lõi của Đảng Dân chủ khi theo đuổi đường lối trung dung. Với cuộc khủng hoảng con tin ngày càng trầm trọng hơn ở Iran, nơi có hơn 50 người Mỹ bị giam giữ, Đảng Dân chủ cuối cùng đã mất đi sự nhiệt tình bảo vệ Carter.
Dù Carter vẫn thắng thế trong vòng sơ bộ, ông đã bước vào đại hội đảng với thiệt hại nặng nề. Đảng Dân chủ hướng đến cuộc tổng tuyển cử cùng sự chia rẽ nội bộ, tinh thần suy sụp sâu sắc, và không đủ khả năng chứng minh với cử tri rằng họ đã làm hết sức mình sau bốn năm nắm quyền.
Kết quả của cuộc bầu cử năm 1980 là Reagan thắng với 489 phiếu Đại cử tri. Đảng Cộng hòa cũng giành được quyền kiểm soát Thượng viện, lần đầu tiên kể từ năm 1955. “Liên minh Dân chủ cũ vừa bỏ rơi Tổng thống Carter ngày hôm qua,” Adam Clymer của tờ New York Times nhận xét.
Trong tám năm tiếp theo, Reagan đã điều hướng chính trị sang cánh hữu, và trong nhiều thập kỷ sau đó, Đảng Cộng hòa đã tranh đấu dữ dội chống lại những gì Carter ủng hộ. Reagan mở rộng chi tiêu quân sự và ủng hộ kiểu lập trường quân phiệt trên trường quốc tế mà Carter đã chỉ trích – chí ít là cho đến khi Liên Xô xâm lược Afghanistan vào tháng 12/1979. Đảng Cộng hòa đã nhắm mục tiêu vào các chính sách liên bang nhằm thúc đẩy bảo vệ môi trường và giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch; một bộ phận của đảng thậm chí còn đi xa hơn khi đặt câu hỏi về chính khái niệm biến đổi khí hậu.
Từ Reagan đến Donald Trump, Đảng Cộng hòa đã nỗ lực khôi phục lại chế độ tổng thống chuyên quyền mà Carter đã chống lại vào năm 1976, khi ông đảm bảo với người Mỹ rằng họ có thể tin tưởng ông. Những lo ngại của Carter về đạo đức và tham nhũng đã bị gạt sang một bên. Đất nước dần chìm sâu trong kỷ nguyên mà tiền của tư nhân nhấn chìm nền chính trị, và ranh giới giữa chính trị kinh doanh và chính trị chuyên nghiệp đã bị xói mòn. Sự ngờ vực đối với chính phủ, bao gồm cả chức tổng thống, luôn ở mức cao.
Dù các nhà viết tiểu sử đã đạt được thành công lớn trong việc khôi phục lại những thành tựu bị lãng quên của Carter, hậu quả lâu dài của việc để lại một liên minh chính trị vỡ tan cũng không nên bị bỏ qua.
Chắc chắn, không phải tất cả các vấn đề mà Đảng Dân chủ phải đối mặt vào năm 1980 đều đáng bị đổ lên vai Carter. Đảng này đã phải đối mặt với những hạn chế và chia rẽ nội bộ của chính mình từ rất lâu trước khi Carter bước vào Nhà Trắng. (Hãy nhớ đến cuộc bầu cử năm 1972.) Nền kinh tế rơi vào tình trạng hỗn loạn và người Mỹ đang bị bắt làm con tin ở Iran là hai vấn đề có thể hủy diệt bất kỳ đảng nào.
Hơn nữa, kỹ năng chính trị sắc bén của Reagan và sự ủng hộ sâu rộng đối với phong trào bảo thủ cũng là những yếu tố quan trọng dẫn đến chiến thắng của phe bảo thủ vào năm 1980.
Tuy nhiên, các tổng thống, bao gồm cả Carter, không thể thoát khỏi những lời chỉ trích xuất phát từ những vấn đề mà đảng của họ phải đối mặt, đặc biệt là khi chính họ đã tạo ra lỗ hổng cho các thế lực phản đối. Khi các tổng thống gặp khó khăn trong việc xây dựng đảng, thì luật pháp, ý tưởng, và thậm chí là cơ hội tái đắc cử sẽ nhanh chóng bị lu mờ bởi việc chuyển giao quyền lực cho một nhà lãnh đạo mới và một liên minh mới, những người sẽ đấu tranh để phá bỏ hầu hết mọi thứ mà người tiền nhiệm của họ đã nỗ lực xây dựng.
Trong lúc Tổng thống Joe Biden chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ, Đảng Dân chủ một lần nữa nhận ra được tầm quan trọng của việc xây dựng đảng. Biden, người đạt được nhiều thành công về mặt lập pháp hơn Carter, đã không thể cải thiện cục diện cho đảng của mình so với khi ông nhậm chức.
Cuộc bầu cử năm 2024 đã đưa chủ nghĩa bảo thủ MAGA lên đến đỉnh cao sức mạnh. Biden đã không cứu được linh hồn của nước Mỹ, như ông đã hứa khi vận động tranh cử vào năm 2019. Giờ đây, Trump – người mạnh dạn tuyên bố rằng ông sẽ giành lại quyền kiểm soát Kênh đào Panama – sẽ tận hưởng thêm bốn năm quyền lực chính trị, được khuyến khích nhờ việc giành được cả phiếu phổ thông lẫn phiếu ở mọi tiểu bang dao động.
Trong bốn năm tới, và có lẽ là trong bốn thập kỷ tới, Đảng Dân chủ vẫn sẽ chật vật để bảo vệ hồ sơ lập pháp và chương trình nghị sự chính sách mà họ đã dày công xây dựng.
Julian E. Zelizer là giáo sư lịch sử và công vụ tại Đại học Princeton. Ngày 14/01 sắp tới, Columbia Global Reports sẽ xuất bản cuốn sách mới của ông, “In Defense of Partisanship.”
Nguyễn Thị Kim Phụng dịch
Trần Trung Đạo: Tổng thống Jimmy Carter khuyên Đặng Tiểu Bình không nên đánh Việt Nam
Chưa đầy hai tháng nữa là thời điểm đánh dấu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Cộng năm 1979. Trước khi cất quân, Đặng Tiểu Bình thực hiện một chuyến công du từ Á sang Mỹ để tìm đồng minh và thu phục sự đồng tình. Tại Á Châu, ngoại trừ Singapore, các quốc gia Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Nepal đều ủng hộ Đặng. Tổ chức ASEAN cũng lên án Việt Nam xâm lăng Kampuchea.
Nhưng viếng thăm Mỹ là chuyến viếng thăm quan trọng nhất của họ Đặng. Tại Mỹ, Đặng Tiểu Bình gặp Tổng thống Jimmy Carter cả thảy ba lần.
Chiều ngày 29 tháng Giêng, Đặng Tiểu Bình và phái đoàn gồm Ngoại Trưởng Hoàng Hoa, Thứ trưởng Ngoại Giao Zhang Wenjin đến gặp Tổng thống Carter tại Tòa Bạch Ốc. Phía Mỹ, ngoài Tổng thống Carter còn có Phó Tổng Thống Walter Mondale, Ngoại Trưởng Cyrus Vance và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Zbigniew Brzezinski. Trong buổi họp, Đặng Tiểu Bình thông báo cho Tổng thống Mỹ biết Trung Cộng đã quyết định chống lại sự bành trướng của Liên Xô bằng cách tấn công Việt Nam và cần sự ủng hộ của Mỹ.
Trái với mong muốn của Đặng Tiểu Bình, Tổng thống Carter không trả lời ngay. Phía Trung Quốc lầm tưởng việc không trả lời là một cách ủng hộ ngầm. Thật ra Tổng thống Carter muốn trả lời tại buổi họp trọng tâm của chuyến viếng thăm vào sáng hôm sau.
Sáng ngày 30 tháng Giêng 1979, họ Đặng gặp Tổng thống Carter lần nữa. Lần này, ngoài các vấn đề kinh tế chính trị, Tổng thống Jimmy Carter còn đặt vấn đề Hoa Kiều tỵ nạn tại Trung Quốc. Với bản tính nhân hậu, Tổng thống Carter không chỉ lo lắng cho số phận người Việt đang hay sắp tìm cách rời Việt Nam mà còn lo lắng cho cả những người Việt gốc Hoa. Tổng thống Carter muốn họ Đặng tiếp nhận thêm Hoa Kiều.
Tổng thống Carter hỏi họ Đặng: “Liệu có khả năng Trung Quốc tiếp nhận thêm người tỵ nạn Trung Quốc rời khỏi Việt Nam không?”
Đặng Tiểu Bình từ chối. Ông ta viện lý do tại Trung Quốc hiện đang có 200,000 người từ Việt Nam chạy sang và Trung Quốc cũng chưa có việc làm đầy đủ. Họ Đặng nói: “Rất nhiều người tỵ nạn thực sự là những phần tử xấu ở Việt Nam – những người không làm việc hoặc thậm chí là côn đồ – và những người thực sự làm công việc lương thiện đều bị bỏ lại phía sau.”
Tổng thống Carter cho họ Đặng biết vào thời điểm đó Hoa Kỳ đã nhận 180,000 người tỵ nạn.
Trước đó, lúc 9:05 sáng, khi hai phái đoàn vừa gặp nhau, Tổng thống Carter yêu cầu thông dịch viên đọc trực tiếp lá thư của ông gởi với Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình liên quan đến việc Trung Quốc xâm lăng Việt Nam. Nội dung lá thư viết tay của Tổng thống Carter như sau:
Washington, ngày 30 tháng 1 năm 1979
Gởi Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình
Phó Thủ tướng hỏi ý kiến tôi về một cuộc tấn công trừng phạt có thể xảy ra đối với Việt Nam. Tôi nghĩ đó sẽ là một sai lầm nghiêm trọng vì những lý do sau:
a) Nếu mục đích của cuộc tấn công là nhằm gián đoạn hoạt động xâm lược của Việt Nam hiện nay ở Kampuchea thì mục đích đó sẽ khó thành công. Một hành động mang tính cách biểu hiện như thế sẽ không được xem là một “trừng phạt” đáng kể.
b) Hai hình ảnh, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa hòa bình và một Việt Nam xâm lược tàn bạo sẽ bị hoán đổi. Hiện nay, lần đầu tiên, Việt Nam bị hầu hết các quốc gia trên thế giới lên án. Liên Xô và Cuba được coi như là đồng phạm.
c) Kết quả lâu dài của sự lên án này của Liên hợp quốc và trên toàn thế giới sẽ gây một số tác động bất lợi đáng kể đối với Việt Nam với điều kiện các quốc gia công nghiệp phát triển nỗ lực phối hợp một cách nhịp nhàng để cắt giảm viện trợ kinh tế và các nước “phi liên kết” thực hiện hành động của Liên Hợp Quốc và kêu gọi các biện pháp trừng phạt.
d) Một sự kiện nghiêm trọng có thể leo thang thành xung đột khu vực.
e) Các kế hoạch cho một hành động giới hạn và ngắn hạn có thể phải bị hủy bỏ nếu Trung Quốc bị đưa ra tối hậu thư để rút quân. Điều này sẽ làm cho việc rút quân trở nên rất khó khăn.
f) Xung đột võ trang do Trung Quốc phát động sẽ tạo nên sự lo ngại nghiêm trọng ở Hoa Kỳ liên quan đến tính cách chung của Trung Quốc và giải quyết hòa bình trong tương lai của vấn đề Đài Loan. Tuyên bố chung của chúng ta về hòa bình và ổn định có được từ quá trình bình thường hóa sẽ bị phủ nhận ở một mức độ nào đó.
g) Người Kampuchia dường như đang chiến đấu hiệu quả hơn mong đợi với tư cách là những chiến binh du kích.
h) Những đe dọa về biên giới của Trung Quốc có thể gây ra vấn đề cho Việt Nam ngay cả khi không xâm nhập vào Việt Nam.
i) Hành động của Trung Quốc có thể tạo thêm một cái cớ cho sự hiện diện nhiều hơn của Liên Xô ở Việt Nam.
Vì những lý do này, Hoa Kỳ không thể ủng hộ hành động như vậy và tôi thực sự mong Phó Thủ tướng cũng không theo đuổi nó.
Thưa Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình, trong quan điểm của tôi, một nỗ lực phối hợp thông qua Liên Hợp Quốc hoặc các diễn đàn quốc tế khác có thể gây tổn hại nhiều hơn cho Việt Nam và các đồng minh của họ.
Trân trọng,
Jimmy Carter
(Nguồn: Carter Library, National Security Affairs, Staff Material, Office, Outside the System File, Box 47, China: President’s Meeting with Vice Premier Deng: 1–2/79. Top Secret. According to the President’s Daily Diary, this meeting took place in the Oval Office with Deng and the Chinese interpreter, Ji Chaozhu, from 9:05 to 9:40 a.m. (Carter Library, Presidential Materials))
Đặng Tiểu Bình lắng nghe không ngắt lời người thông dịch.
Sau khi nghe xong, Đặng Tiểu Bình trả lời rằng Trung Cộng vẫn sẽ “trừng phạt Việt Nam giới hạn” để ngăn chặn Liên Xô trong việc sử dụng Cuba, Việt Nam và rồi Afghanistan như những chư hầu. Nhưng để vớt vát, Đặng Tiểu Bình yêu cầu Mỹ viện trợ cho các lực lượng chống CSVN qua trung gian Thái Lan.
Tổng thống Carter hỏi lại liệu Thái Lan có đồng ý không, Đặng Tiểu Bình trả lời Thái đã đồng ý. Đặng Tiểu Bình thất bại trong mục đích được Mỹ công khai ủng hộ nhưng thành công trong các mục đích nhỏ khác như được Mỹ hứa cung cấp tin tức tình báo và đóng góp cụ thể hơn trong việc giúp phe chống CSVN tại Cambodia. Cáo già Cộng sản Đặng Tiểu Bình không đi Mỹ để đánh bạc theo kiểu được ăn cả ngã về không mà được phần nào cũng tốt. (Foreign Relations of the United States, 1977–1980, Volume XIII, China)
Để hiện đại hóa Đặng Tiểu Bình biết Trung Cộng phải dựa vào Mỹ. Sau bình thường hóa với Mỹ, một kỷ nguyên hợp tác Mỹ-Trung Cộng đã phát khởi với các phát triển kinh tế vượt bực mà thế giới coi là “Trung Quốc Kỳ Diệu” ( China Miracle) với mức gia tăng trung bình 9.5% từ 1978 đến 2003.
Đặng Tiểu Bình và Jimmy Carter tại lễ đón tiếp chuyến thăm Hoa Kỳ của Đặng (1979). Hình chụp ngày 29/1/1979.Lịch sử thời cận đại cho thấy Trung Cộng chưa bao giờ có một đồng minh chiến lược thật sự. Đi với Mỹ để hiện đại hóa và khi được hiện đại hóa Trung Cộng xoay trở lại chống Mỹ. Mỹ nuôi lớn kẻ thù.
Giáo sư Sergey Radchenko, nhà nghiên cứu tại Woodrow Wilson Center for International Scholars nhận xét rằng Carter và nhóm an ninh quốc gia của ông hy vọng một ngày Trung Quốc sẽ trở nên dân chủ và cởi mở hơn.
Không chỉ Tổng thống Jimmy Carter mà cả Tổng thống Ronald Reagan cũng nghĩ thế. Trong diễn văn đọc tại Venice Economic Summit 1987, Tổng thống Ronald Reagan tuyên bố rằng: “Khi thị trường tự do tiếp thêm sinh lực cho châu Á, các cuộc bầu cử tự do lan rộng khắp Trung và Nam Mỹ. Ở châu Phi, nhiều nhà lãnh đạo đã đồng ý rằng tự do là chìa khóa của sự phát triển. Ở Trung Quốc, đổi mới có nghĩa là hương vị tự do mà hơn 1 tỷ người được nếm lần đầu.” (Public Papers of the Presidents of the United States: Ronald Reagan, 1987)
Thật ra lý luận xung đột quyền lợi vật chất và tinh thần giữa các thành phần xã hội dẫn đến cách mạng như trường hợp Cách Mạng Pháp 1789, không sai nhưng thời gian để các mâu thuẫn chín muồi khác rất xa trong mỗi thời kỳ văn minh của loài người. Thời đại ngày nay với nền kinh tế toàn cầu hóa và các quan hệ kinh tế phức tạp, phụ thuộc vào nhau sâu sắc, các mâu thuẫn đối kháng cần rất lâu để triệt tiêu nhau.
Mỹ học một bài học dài trên 45 năm, nhưng học để làm gì, liệu có thay đổi được gì không?
Câu trả lời là có. Thế giới chưa tận diệt và cuộc đấu tranh giữa thiện và ác sẽ còn tiếp tục. Julius Caesar không phải là nhà độc tài đầu tiên và Tập Cận Bình không hẳn là nhà độc tài cuối cùng. Những bài học được học và những chọn lựa mới sẽ được chọn. Mỗi giai đoạn trong lịch sử nhân loại luôn có những thách thức mới của thời đại và luôn có những con người mới để lãnh đạo thời đại của mình. Nước Anh có một Neville Chamberlain yếu mềm nhưng ngay sau đó có một Winston Churchill cứng rắn bước ra thay thế.
Trục xung đột của thế giới đang chuyển về hướng Á Châu nhưng vì các mối quan hệ kinh tế toàn cầu phức tạp còn khá sớm cho những thay đổi lớn.
Sự bành trướng của Trung Cộng đặt Nhật Bản vào thế sớm hay muộn cũng phải tái võ trang để bảo vệ quyền lợi của họ tại Á Châu nhưng với ngân sách quốc phòng tài khóa 2025 sẽ là 55 tỷ dollar, quân đội Nhật vẫn còn là một quân đội nặng về phòng thủ.
Năm 2024 Ấn Độ gia tăng ngân sách quốc phòng lên tới 75 tỷ dollar đứng hàng thứ ba thế giới sau Mỹ và Trung Cộng nhưng chính sách ngoại giao của Ấn Độ từ thời thành lập nền Cộng Hòa 1947 cần phải thay đổi để cứng rắn và dứt khoát hơn khi đáp ứng các thách thức mới từ Trung Cộng.
Biển Đông và Đài Loan sẽ là hai điểm nóng trong Chiến Tranh Lạnh Á Châu.
Khó có thể trả lời bao giờ hay khi nào số phận của 4.7 tỷ người sống trên các lục địa Á Châu sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ xung đột võ trang do Trung Cộng gây ra. Nhưng chắc chắn thảm họa sẽ đến.
Những bài học từ hai cuộc thế chiến cho thấy, nếu có chuẩn bị, một quốc gia có thể thoát ra hay ít bị ảnh hưởng hơn các quốc gia khác. Ngược lại, nếu các nhà lãnh đạo chỉ vì tầm nhìn quá hẹp, vì tham vọng quyền lực, vì quyền lợi đảng phái, vì nồi cơm chén gạo của cá nhân, gia đình mà không thực hiện các thay đổi cấp bách, đất nước sẽ rơi vào vực thẳm.
Trần Trung Đạo
Thủ bút lá thư của Tổng thống Jimmy Carter gởi Đặng Tiểu Bình. Ảnh tư liệuTrong bài điếu văn, Tổng thống Dân chủ Joe Biden đã ca ngợi vị tổng thống thứ 39, người đã qua đời vào ngày 29/12 năm ngoái ở tuổi 100.
Ông
Biden nói rằng cuộc đời của ông Carter là ‘câu chuyện về một người đàn
ông không bao giờ để những cơn sóng chính trị đẩy ông khỏi sứ mệnh phục
vụ và định hình thế giới’.
“Một người có nhân cách,” ông Biden
nói. “Ông cho chúng ta thấy nhân cách và niềm tin bắt đầu từ chính chúng
ta và sau đó lan tỏa đến người khác như thế nào.”
Hàng chục ngàn người dân Mỹ trong hai ngày qua đã xếp hàng dài qua Điện mái vòm trong Điện Capitol để tỏ lòng tôn kính với ông Carter.
Nhiều người ca ngợi ông như một tấm gương về sự đứng đắn và khiêm tốn cho các chính trị gia ngày nay vốn hết sức mang tính đảng phái.
Ái nữ của ông Carter, Amy, đã tham gia cùng các thành viên khác trong gia đình trong tang lễ. Thủ tướng Canada Justin Trudeau, Phó Tổng thống đắc cử JD Vance và con trai Tổng thống Biden, Hunter Biden, cũng nằm trong số những người dự lễ tang. Các cựu phó tổng thống Al Gore và Mike Pence ngồi cạnh nhau.
Ông
Jimmy Carter đã giành được Nhà Trắng sau khi đánh bại Tổng thống Cộng
hòa Gerald Ford trong cuộc bầu cử năm 1976. Hai vị tổng thống vốn từng
là đối thủ chính trị một thời tiến tới trở thành bạn vong niên, và ông
Carter đã ca ngợi ông Ford sau khi ông qua đời vào năm 2006.
Con trai của ông Ford, Steven, đã đọc một điếu văn tại tang lễ mà thân phụ ông đã viết sẵn cho ông Carter trước khi ông qua đời.
“Jimmy và tôi tôn trọng nhau khi là đối thủ ngay cả trước khi chúng tôi tôn trọng nhau như những người bạn thân,” Ford đọc lại lời của thân phụ. “Jimmy biết những điểm yếu chính trị của tôi và ông ấy đã chỉ ra được. Bây giờ tôi không thích điều đó, nhưng tôi không hề biết rằng kết quả của cuộc bầu cử tổng thống năm 1976 sẽ đem đến một trong những tình bạn sâu sắc và lâu dài nhất của tôi.”













