Sunday, July 12, 2026

ĐÔI BỜ – Vĩnh Chánh

 on trang bạn hữu // ĐÔI BỜ – Vĩnh Chánh –

Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội.  Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau. 

Giữa những đôi bờ ấy, dân Việt vẫn đứng đó, với một vết thương đã liền da nhưng vẫn nhói, vẫn buốt. Đặc biệt, sông Bến Hải– cầu Hiền Lương trở thành một nỗi nhớ triền miên, kèm theo mất mác chia lìa mà có khi cả đời vẫn chưa hàn gắn. Câu chuyện Đôi Bờ không chỉ là chuyện về địa lý của vĩ tuyến 17, không chỉ ngăn cách hai miền đất, hai chính thể. Chúng còn chia lìa những điều mong manh nhất của kiếp người. Với những danh từ mới: Bên Dinh Bên Tề, Di Cư Tập Kết, Tàu Há Mõm, Vượt Sông Vượt Tuyến, Bức Màn Sắt, Quốc Gia / Cộng Sản, Tự Do Dân Chủ / Độc Tài Đảng Trị, Khẩn Hoang Lập Ấp / Đấu Tố – Cải Cách Ruộng Đất. Khiến sự chia cách càng thêm éo le. Có những đôi bạn lớn lên cùng nhau, rồi một ngày trở thành hai phía của lịch sử. Có những mối tình vừa chớm nở đã bị dòng nước lạnh lùng cuốn đi, để lại hai trái tim chỉ còn biết thương nhớ nhau bằng ký ức. Có những gia đình, kẻ ở lại người ra đi, dù chỉ cách nhau một dòng sông nhỏ mà lại hóa ra xa đến tận hơn nửa đời người. Có những người chồng vội vả mang hai con lớn, để lại thằng út cho vợ, mà không ngờ thật đắng cay và chua xót khi về sau người cha và thằng con út mình tìm thấy nhau ở hai bên chiến tuyến.

 Đôi Bờ bổng nhiên trở thành câu chuyện của những trái tim – những trái tim bị chia ly, những trái tim chảy máu, những trái tim tim lặng lẽ giữ lấy một niềm tin rằng, dù chiến tranh ngang trái, dù một dòng sông nhỏ thôi cũng đủ trở thành ranh giới của nhớ thương. Nỗi “thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai”- trong Đôi Bờ của Quang Dũng – như một lời thở than, một vết thương mềm của anh lính nhớ về một hình bóng xa mà gần, gần mà xa. Nỗi nhớ ấy tưởng chỉ là chuyện riêng giữa hai người, nhưng thật ra lại chạm vào mạch ngầm hằng có trong lịch sử Việt Nam – nơi những dòng sông từ lâu mang trong mình số phận chia cắt.

Sau Bến Hải, đến Cầu Trường Tiền bị CS đánh sập khi chúng mưu đồ xé bỏ hiệp định đình chiến Tết Mậu Thân 1968, chia cắt đôi bờ Hữu Ngạn Tả Ngạn của Huế gần cả tháng, đem chiến tranh vào tận thành phố và gieo tang tóc, chết chóc cho mấy ngàn thường dân vô tội. Từ năm 1965 và lần hồi nhiều năm sau đó, ranh giới Bến Hải bị xô lệnh khi miền Bắc cố tình và âm thầm lấn xuống phía Nam qua hẵn vùng phi quân sự. Đến năm Hè Đỏ Lửa 1973, cả ngàn bộ đội Miền Bắc bỏ xác, nhuộm đỏ dòng sông Thạch Hản khi tràn vào đánh vào Quảng Trị

Những sự kiện lấn chiếm phía Nam sông Bến Hải, đánh sập cầu Trường Tiền, tiến đánh Quảng Trị 1972, chủ trương chiến dịch Da Beo, khiến nơi trao đổi tù binh hai bên vào hè năm 1973 không phải là tại sông Bến Hải, mà là tại sông Thạch Hản, cho thấy sự tráo trở giảo quyệt của chế độ vô sản Miền Bắc, gây ra bao cuộc chia ly mà hình ảnh và vết tích đã, đang và mãi mãi còn in dấu trong lịch sử dân tộc.

Tưởng rằng sau 1975 khi đất nước liền một dải thì nỗi chia ly sẽ chấm dứt, đôi bờ ngăn cách sẽ được xóa tan. Thế nhưng lịch sử như muốn thử thách thêm sức chịu đựng của con dân mình, và rằng lịch sử chưa đủ những vết cắt, hay như thể cha ông chúng ta chưa đền đủ nợ oan gia  từ tiền kiếp, biến cố 30 tháng 4, 1975 lại mở ra một cuộc chia lìa khác, khủng khiếp hơn, kinh hãi hơn nhiều, gây nhiều thảm cảnh thương đau, đánh động lương tâm toàn thế giới – vì lần này không phải bởi một dòng sông nhỏ, mà bởi cả một đại dương rộng lớn và hãi hùng. Đại dương mênh mông này trở thành “dòng sông thứ ba”, hàng trăm ngàn người Việt lại đứng ở hai bờ sông – một bên là đất mẹ, một bên là bến bờ xa lạ.

Sóng biển không những nuốt chửng thuyền nhân, mà còn nuốt cả những hy vọng, những lời hẹn thề, những tiếng gọi nhau không bao giờ tới được. Vì vậy khi đọc Đôi Bờ, ta không chỉ thấy một cuộc chia ly của hai người, mà còn thấy luôn  bóng dáng của cả một dân tộc oằn người trong đó – một dân tộc nhiều lần bị đặt ở hai phía đối diện, nhưng trái tim người dân thì chưa bao giờ thôi hướng về nhau – với một người ra đi là cả một gia đình mươi người còn lại bên kia ngày ngày cầu nguyện cho người thân yêu đến được bờ bến tự do. Như vậy mới thấy rõ những Đôi Bờ của lịch sử có thể xa, nhưng những Đôi Bờ của tình người thì vẫn âm thầm mong ước ngày tái ngộ.

Đây là một cuộc vượt tuyến vĩ đại chưa từng được ghi nhận trong lịch sử thế giới, nói lên sự dứt khoát chọn lựa Tự Do trong cuộc sống, thà chết ngoài biển khơi hơn là tiếp tục sống trong nhà tù lớn, nhỏ, của chế độ thù hằn. Văn học xã hội và lịch sử có thêm những danh từ mới: Di Tản, Vượt Biên Vượt Biển, Cướp Biển, Thuyền Nhân Bộ Nhân, HO, ODP, Trại Tỵ Nạn, Trại Chuyển Tiếp, Hoạt Động Cứu Người Vuợt Biển, Định Cư Nhập Cư, Political Asylum Green Card…

Nhưng các bạn ơi, bến bờ lần này xa vời vợi, quá rộng, quá lạnh, quá tàn nhẫn;  Thái Bình Dương hay cả bên kia bờ Thái Bình Dương, rồi khắp vòng quanh thế giới là vạn dặm cách xa quê hương. Ở giữa những bờ ấy là những con thuyền mong manh như số phận người ra đi, là đói khát, là sóng to gió lớn, là chết chóc với con mắt mở lớn khiếp đảm và bàn tay không kịp đưa lên trời cầu xin, với những cơn bão không tên làm chìm thuyền, hay do thuyền của hung thần hải tặc đâm thẳng vào sau khi vét cạn chút tài sản còn lại của nạn nhân… Và giữa hai bờ ấy, cả mấy trăm ngàn người – vì một chữ Tự Do – đã nằm lại, không mộ phần, không bia đá, chỉ có biển cả làm tấm khăn liệm cuối cùng. Những chia ly này, không như những chia ly trước chỉ vì địa lý. Chúng là những tiếng khóc than bay lên tận trời. Là những vết thương âm thầm không ngưng rỉ máu trong từng gia đình, khi cha mất con vợ mất chồng, anh em thất lạc nhau– là những thảm cảnh xã hội trớ trêu, đầy oan trái, đắng cay.

Ta thường tự hỏi có phải lỗi lầm? Hay chỉ định mệnh? Khi một người vợ phải “ôm cầm sang thuyền khác” vì con thơ cần được nuôi, vì miếng cơm manh áo, vì bơ vơ trên xứ người, vì không biết chồng mình còn sống trong tù CS hay đã nằm đâu đó giữa núi rừng, biển khơi. Khi một người chồng cô đơn qua năm tháng, không tin có ngày vợ mình an toàn vượt biển để đoàn tụ, đành phải lấy một người chưa hề quen biết để cùng góp gạo thổi cơm – Thì đó không phải là lỗi lầm. Không ai phụ ai. Không ai phản bội ai. Đó là biến chuyển lịch sử phụ họ. Đó là định mệnh, là sự tàn nhẫn của thời cuộc, là cái giá con người phải trả. Ai trong chúng ta mà không mang một cây thánh giá trên vai?! Không nặng hơn, không nhẹ hơn; khác nhau ở chỗ vác như thế nào!?Chỉ là nhẹ hay nặng thôi! Trong những hoàn cảnh ấy, người ta không có sự lựa chọn. Cuộc sống buộc họ phải sống tiếp.

Phải chăng tiếp tục sống đôi khi cũng là một cách giữ gìn phẩm giá của mình. Để khi gặp lại nhau về sau, với mỗi người một đời sống riêng, thì điều họ trao cho nhau là sự cảm thông và tha thứ. Cảm thông để hiểu rằng định mệnh đã an bài, không ai phản bội ai. Chớ trách móc, chớ kết tội. Cần tha thứ. Tha thứ để nhẹ lòng, để giữ phần đẹp nhất của nhau, phần đã từng thuộc về nhau trước khi lịch sử xé đôi, và để khép lại một chương đời đau thương; chứ tha thứ không có nghĩa là phải quay về lại với nhau. Ta gọi đó là tình nhân bản.

Lỗi đâu ở kẻ đổi thay – Chỉ do định mệnh đẩy ngày xa nhau.

Thương nhau chẳng giữ được nhau – Thì xin giữ lấy nỗi đau dịu dàng.

Mai sau gặp lại muộn màng – Mỗi người một ngả… vẫn mang nghĩa tình.

Tha thứ để nhẹ lòng mình – Tha cho số phận lênh đênh tháng ngày.

Có những Đôi Bờ khắc nghiệt hơn — những gia đình bị xô lệch vì lịch sử. Người tập kết mang người vợ mới về Nam khi người vợ miền Nam vẫn nuôi con thành đạt và mỏi mòn chờ chồng suốt 20 năm, tạo ra hoàn cảnh những trái tim không biết phải trách ai, chỉ biết tự hỏi vì sao số phận lại chia người ta ra làm hai nửa như vậy.

Lại có Đôi Bờ còn đau hơn nữa, khi một người cha vì sợ mất chức, mất danh trong Đảng nên không dám bảo lãnh chính con ruột của mình ra khỏi trại cải tạo, nhưng lại nhận tiền để cứu một người xa lạ. Ở đó, Đôi Bờ không chỉ là khoảng cách, mà là vết cắt của lương tâm, là nơi người ta buộc phải đối diện với chính mình.

Nhưng Đôi Bờ đâu chỉ nằm ngoài xã hội, ngoài lịch sử. Ngay trong một mái nhà nhỏ, đôi khi cũng có những dòng sông lặng lẽ chảy qua. Có những người chồng bước sang một bờ khác của đam mê và phản bội, để lại người vợ đứng bên này với nỗi đau không gọi thành tên. Có những người vợ lạc vào cơn mê đỏ đen, để gia đình dần dần trôi xa như chiếc thuyền đứt neo. Những ranh giới ấy không ai dựng lên bằng tay, nhưng lại hiện ra rất rõ trong ánh mắt, trong bữa cơm, trong khoảng cách của hai người từng nằm sát bên nhau.

Thiếu gì trường hơp Đôi Bờ đâu chỉ chia vợ chồng, cha con. Có khi nó chia cả những người bạn từng lớn lên bên nhau, từng chung một giấc mơ tuổi trẻ. Một người ở lại thành phố, khoác áo sĩ quan miền Nam; người kia vào bưng, trở thành cán bộ của phía bên kia. Đến ngày gặp lại sau 75, khoảnh khắc họ nhìn thấy nhau qua song sắt — một người tù, một người cai tù — là khoảnh khắc mà cả hai đều hiểu rằng tình bạn ngày xưa đã bị lịch sử xé làm đôi, không phải bằng dao, mà bằng những lựa chọn mà họ không còn quyền từ chối. Rồi người bạn trở về ép uổng lấy người vợ của bạn mình, là người con gái mà cả hai từng thương chung thuở học trò. Không phải vì phản bội, mà vì thời cuộc đã đẩy mỗi người trôi sang hai bờ đỏ vàng khác, để khi quay lại, tình bạn ngày xưa chỉ còn là một vết đen trong ký ức, muốn quên nhưng thật khó.

Những Đôi Bờ nói trên— dù âm thầm, dù riêng tư — nhưng chính là những vết thương sâu nhất mà chiến tranh để lại trong lòng người Việt

Các bạn mến, đại dương không những chia đôi đất nước, nó xé nát cả những cuộc đời. Đôi Bờ của biển cả, Đôi Bờ của lịch sử, Đôi Bờ của định mệnh – tất cả đã hoà lại tạo thành một nỗi đau chung của dân tộc. Một vết cắt thứ Ba, quá rộng, quá to, và sâu nhất. Ba lần chia cắt, ba dòng nước – một nhỏ, một hẹp, một mênh mông – nhưng nỗi đau vẫn chỉ có một. Đó là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước. Tuy nhiên, có điều lạ nhất – càng xa quê hương, lòng càng nhớ, càng thấm nghĩa tình người. Lịch sử có thể chia đời ta từng đoạn, kể luôn cả gia đình ta ra từng khúc, nhưng lại không chia được tấm lòng của người Việt với người Việt trên quê hương thứ hai. Và với thời gian, lòng người cũng hiểu điều còn lại sau cùng, không phải là biên giới hay chiến tuyến, mà là bàn tay muốn nắm lấy bàn tay, cho dù, như đã từng – cách một dòng sông – và nay cách một đại dương

Khi viết về Đôi Bờ theo cái nhìn của lịch sử dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến thi văn và âm nhạc Việt qua các Đôi Bờ lịch sử ấy. Nơi lịch sử dựng ra Đôi Bờ, âm nhạc lại mở ra những con đường. Nơi chiến tranh đẩy người ta xa nhau, âm nhạc lại giữ họ lại gần. Nhạc và thơ vượt qua được ranh giới, nối lại những bờ xa vắng bằng một câu thơ nhung nhớ, bằng một câu hò à ơ tình tự. Vì thi ca và âm nhạc là hơi thở, là tiếng thở dài ai oán của cả hai bờ. Thi văn và âm nhạc luôn là nơi mọi người gởi gắm những nỗi chia ly, lòng nhung nhớ, tình yêu thương mà lời nói thường không đủ mạnh, không đủ chiều sâu để cất lên. Mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại một dấu mốc cho những Đôi Bờ.

Với dòng sông Bến Hải, Lam Phương đã sáng tác “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” kể về một cô gái đưa người yêu vượt sông Bến Hải trong đêm “ Đêm nay trăng sáng quá anh ơi – Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”. Một bản nhạc mà mỗi câu hát như run lên vì sương khuya và nỗi đợi chờ.

Ngày đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, khi từng đoàn người lặng lẻ rời miền Bắc để tìm Tự Do, nhạc sĩ Anh Bằng đã viết “Nỗi Lòng Ngươi Đi”. Bài hát mang theo tiếng thở dài của hàng trăm ngàn thân phận người lên đường mà còn ngoái lại quê nhà. Bản nhạc không kể chuyện bằng sự kiện, mà bằng nỗi nhớ, bằng tiếng gọi quê hương từ lòng của những kẻ buộc phải rời đi.

Có những bài hát không cần nói đến nỗi đau thương, nhưng chỉ một câu thôi cũng đủ làm tim người nghe thắt lại. Trong “Bên Bờ Đại Dương”, khi nhạc sĩ Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương viết “Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương, Bắc với Nam, tình nối qua lòng Miền Trung…”, đó là tiếng vọng của một người vừa trải qua cuộc chia đôi 1954, đứng bên bờ Nam nhớ qua bờ Bắc. Giữa hai miền là dãy Trường Sơn, là những mái tranh nghèo Bắc Giang, là ruộng ngọt phương Nam. Tuy trong bản nhạc không có khóc than, nhưng trong sự hùng tráng của nó có một nỗi sầu sâu đậm: dù chia đôi, dân tộc vẫn giữ niềm tin nghĩa tình có thể được nối qua lòng miền Trung.

Giữa những Đôi Bờ của lịch sử, còn có những đôi bờ riêng – đôi bờ của định mệnh và tôn giáo. “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Duy, phổ từ bài thơ của Phạm văn Bình, gốc Đông Hà, Quảng Trị, mang tâm sự một cuộc tình tan vỡ vì người nam và người nữ không thể bước chung qua một cánh cửa tôn giáo – Một cánh cửa luôn rộng mở cho mọi người, nhưng lại khép lại cho đôi tình nhân trẻ tuổi – Đôi Bờ không nằm trên bản đồ, mà nằm trong trái tim, để khi gặp lại nhau chỉ còn “thương người em năm cũ, thương góa phụ bên sông”.

“Chuyện Một Cây Cầu Đã Gảy” được Trầm Tử Thiêng sáng tác ngay trong năm 1968. Bài hát gắn liền với cây cầu biểu tượng cho xứ Thần Kinh, bị đánh sập trong Tết Mậu Thân ở Huế. Sáng tác này xem như một khúc ai điếu. Cấu nối hai phía Hữu Ngạn và Tả Ngạn, nối chợ Đông Ba, phu khố Gia Hội, phố Phan Bội Châu với các trường học Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, Bình Linh, Đại Học Huế, chợ Bến Ngự; nối Đại Nội, khu Thành Nội, Mang Cá cùng quân y viện Nguyễn Tri Phương với khu hành chánh, tòa Tỉnh Trưởng, khu đại học cùng bệnh viện Trung Ương Huế, nhà Ga Huế, Đập Đá. Một vài nhịp cầu bị nổ mìn và nguyên thành phố Huế chìm trong tang tóc – một phần đời của Huế bị bứng khỏi sự bình yên vốn từng có theo sự lặng lờ của dòng sông Hương. Đặc biệt giai điệu bản nhạc mang âm hưởng Nam Bình – Nam Ai, cổ kính của xứ Thần Kinh, như những tiếng than dài ai oán của thành phố chịu quá nhiều tang thương. Bản nhạc này được nhắc đến như một lời tiễn biệt cho phần linh hồn của Huế, không phải vì một vài nhịp bị sập mà cả một ký ức chung bị vỡ, một nỗi đau mà dân Huế mang theo suốt đời – cho dù về sau cây cầu được sửa lại, tô màu, lên đèn, nhưng tinh thần Đôi Bờ của cây cầu không bao giờ được nối lại. Lịch sử sẽ ghi đầy một trang đen tối.

 Bạn thân mến, có những nỗi nhớ không hướng về một cá nhân, mà hướng về cả một đời. Trong “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc – mà chúng ta biết đến, qua những công việc giúp người tỵ nạn định cư, cọng tác và hướng dẫn nổi tiếng của chương trình nhạc Asia, người kêu gọi và góp sức trong việc xây dựng Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, và nhạc sĩ của nhiều tình ca tuyệt vời, kể cả bài Saigon Ơi! Vĩnh Biệt – khi tiếng hát cất lên “Cho tôi xin lại ngọn đồi…Cho tôi xin lại bờ rừng…Cho tôi xin một lần chàoCho tôi xin một mộ phần”, đó không chỉ là lời xin của một người tỵ nạn đơn giản, màlà lời khấn của một người lính đã mất quê hương, mất đồng đội, mất cả nơi để trở về. Những ngọn đồi ấy, bờ rừng ấy, không còn trên bản đồ, nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức – nơi anh em từng nằm chung hầm, chia từng nhúm gạo xấy, từng hơi thở giữa cái sống và cái chết. Và nỗi đau đớn nhất, không phải là lưu vong, mà biết rằng mình không thể trở về để chào những bạn đã khuất. Xin hãy niệm mỗi câu hát là một nén hương thắp cho những đồng đội đã nằm xuống, và ngay cả cho một phần đời của mình đã nằm lại bên kia bờ. Bài hát này, không phải chỉ là ký ức chiến trường, mà còn là ký ức của những người ở lại nhìn bạn bè ra đi mãi mãi – khiến bao chiến sĩ chúng tôi nhỏ lệ.

Mấy chục năm trước, ca nhạc sĩ Nam Lộc trình bày cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn bản nhạc Người Di Tản Buồn rất nhiều lần, không những trên sân khấu mà  trong những công viên, những khuôn viên nhà thờ, nhà hội đoàn…Trong thước phim đen trắng cũ kỹ ấy, Nam Lộc đứng trước cả ngàn người. Không có sân khấu lộng lẫy, không ánh đèn màu, chỉ một đờn guitar và một micro đơn sơ và tiếng hát nghẹn ngào của một người từng sống với nỗi đau của dân tộc. Xung quanh ông là những gương mặt trẻ, nam nữ, đứng chen nhau, mắt mở lớn, lặng đi như bị cuốn vào từng câu hát. Họ là thế hệ vừa rời quê hương, còn nguyên nỗi bàng hoàng của những ngày vượt biển, vượt biên. Phía sau họ, những mái đầu bạc, những cụ ông cụ bà khoác áo len cũ, đứng nép dưới bóng cây. Nhiều người tỏ dấu xúc động. Có lắm cụ chắp tay trước ngực, như muốn chặn cơn nghẹn đang dâng trào trong con tim; có bà cúi mặt, cầm vạt áo lau nước mắt, không phải chỉ vì bài hát buồn, mà vì bài hát nói đúng nỗi lòng của thế hệ lưu vong.

Mọi người đứng yên, như bị giữ lại bởi sức nặng của ký ức. Khi Nam Lộc cất lên đoạn cuối – đoạn từng làm bao trái tim rướm máu – cả đám đông như nín thở, không một lời nói, không một ai nhúc nhích. Chỉ có tiếng hát, tiếng nức nở, cùng tiếng thở dài của những người mang quê hương trong tim suốt một đời.

https://www.facebook.com/watch/?v=975442624207928

Một người khác, không có số quân, và bạn thân của tôi, cũng đã hát “Người Di Tản Buồn”. Bs. Lương Quang Thịnh chỉ là một người thích hát, với mái tóc dài lãng mạn của thời sinh viên. Nhưng giọng hát lại mang một nỗi xót xa rất thật – do lẽ anh đã lớn lên giữa mùa hè Đỏ Lửa, khi bạn bè trong xóm, và cả người thân bị đôn quân năm 1972, rồi ngã xuống quá sớm. Anh là kẻ may mắn được tiếp tục cắp sách đến trường. Nhưng sự may mắn ấy lại trở thành một vết thương âm ỷ. Là nỗi day dứt của người ở lại nhìn tuổi trẻ của bạn bè mình hóa thành bia mộ.

Có lẽ vì vậy, khi anh hát, mắt anh sâu và buồn đến lạ – như nhìn xuyên qua bao năm tháng thấy lại những gương mặt đã mất. Giọng hát anh vững, không phô trương, nhưng mỗi chữ như mang sức nặng của con người từng chứng kiến chiến tranh từ phía sau cánh cửa gia đình. Anh cùng người yêu vượt biên khi đang còn là sinh viên năm thứ Tư Đại Học YK Saigon, mang theo hành trang, không chỉ là ước mơ của tuổi trẻ, mà còn là hình ảnh của những người nằm lại trên những chiến trường lớn nhỏ, trên các con đường bờ rừng của quê hương. Vì vậy khi anh cất lên “Người Di Tản Buồn”, ta không chỉ nghe tiếng hát của một người tỵ nạn, mà là tiếng thở dài của một thế hệ của những người trai không cầm súng nhưng vẫn mang trong lòng một cuộc chiến chưa chấm dứt. Và tôi nghĩ, chứng kiến những người bạn trẻ đã nằm xuống vĩnh viễn – sự bất lực, sự ray rứt của người ở lại – rất gần với nỗi đau mà Nam Lộc từng viết, từng cất cao tiếng hát.

Trong bài “Một Lần Yêu” của Phạm Mạnh Cương, sáng tác năm 1968, câu cuối “Xin nhớ rằng hợp tan có khi – Em gối mộng anh xuôi vạn lý – Hẹn ngày nao trên bến quê hương – Thuyền về đây rũ áo phong sương – Đôi mình chung ngắm mây hoàng hôn” không chỉ là lời hẹn vu vơ của đôi lứa, mà là lời hẹn của những người ly hương với quê hương yêu dấu của mình. Dù đời khi hợp khi tan, dù mỗi chúng ta kẻ ngược người xuôi, chúng ta vẫn còn có chung một bến đợi…trong hoàng hôn của cuộc đời.

Nếu “Một Lần Yêu” mở ra một bến đợi cho ta tìm về, thì trong “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, NS. Ngô Thụy Miên mở ra một giấc mơ hồi hương giữa những ngày lưu lạc. Bài này được Ông viết năm 1978, khi ông một mình đang ở trong trại tỵ nạn Pulau Bidong, xa người yêu. Nỗi nhớ ở đây không chỉ là nhớ mùa Xuân, mà là nhớ một thành phố đã mất, nhớ một quê hương chưa biết bao giờ gặp lại. Qua câu “những thành phố em đã đi qua…nhưng có đâu bằng Saigon hôm qua- nhưng có đâu bằng Saigon mai sau – em có mơ ngày hát câu hồi hương”, đó không phải là chỉ là một nỗi nhớ cho thành phố, mà là luyến tiếc nhớ nhung cho một đời sống đã từng. Và câu hát ấy trở thành lời thì thầm của bao người xa xứ: dù chân bước qua bao nhiêu nơi, đường xa bao vạn dặm, trái tìm ta vẫn hướng về chốn duy nhất để trở về. Bản nhạc này là một trong những bài mến chuộng nhất tại hải ngoại.

Trong hành trình về thăm lại quê hương, có những con đường vẫn nguyên như ngày ta rời, vẫn nắng mai rực rỡ, hàng hoa giấy vẫn đỏ thắm, tiếng chim vẫn gọi nhau. “Con Đường Tôi Về”, một sáng tác bất hủ để đời của NS. Lê Tín Hương khi về thăm cha bệnh nặng sau 15 năm cách biệt, đã được viết lên với những cảm xúc thật khi đối diện với cảnh cũ người xưa. Mặc dù nó không óng ả mượt mà như mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan “Lối xưa xe ngưa hồn thu thảo – Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”, nhưng NS Lê Tín Hương giúp ta nhìn thấy cô gái áo trắng ngày nào nay đã bước vào đời với nụ hồng lã lơi, người thương phế binh lê đôi nạng gỗ giữa chợ đời, người cha trở về thân thể hao gầy sau những năm tù tội, người mẹ quê vá áo đời bằng đôi tay gầy guộc – những hình ảnh lột tả đúng sự thật của một xã hội nuôi nhau trong dối gian và bần cùng tột độ. Những câu ấy không trách móc ai. Chúng chỉ đặt tay lên những vết thương, dù nhẹ, nhưng vẫn đủ để ta thấy nhói, thấy đau. Và để ta nghiệm ra không phải là thấy mái nhà xiêu vẹo, vườn hoang ruộng trống mà xót xa bùi ngùi, mà chính là thấy thân phận người thương yêu của mình đã bị thời gian tiêu hao, xoáy mòn – những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ – Đôi Bờ vì thế không chỉ là câu chuyện của chia cắt, mà còn là câu chuyện của những bước chân trở lại – trở lại để nhận biết rằng quê hương vẫn đẹp, nhưng đẹp trong một nỗi buồn không thể gọi tên.

Có những chia ly không phải vì lỗi của ai, mà vì thế sự nghiêng ngữa đẩy đưa. Trong “Đã Một Lần”khi Bác sĩ Nhảy Dù tài hoa Phạm Gia Cổn viết “Trách chi người ai lỗi ai -Trách chi người mi ướt cay -Trách chi người thôi đã xa nhau kiếp này- Thì thôi có trách trăm lời cũng thừa. Mùi thơm khăn áo đi vào cỗ tích tôi”, đó chỉ là một lời thở dài của một người từng hiểu trách móc không làm vơi nỗi đau, mà chỉ làm nặng thêm những gì đã mất. Bởi vậy, Ông chọn cách buông – buông cho nhẹ lòng mình, và nhẹ luôn cả người ấy. Giữa những Đôi Bờ định mệnh, đôi khi điều nhân hậu nhất ta có thể làm cho nhau là không trách cứ gì nhau. Trả lại một khăn tang cho quảng đời của nhau.

Một trong những bản nhạc do bác sĩ quân y Phạm Anh Dũng sáng tác về nỗi nhớ quê hương, “Tình Khúc Hồi Hương”, rất được mến mộ, không những vì âm điệu rất nhẹ nhàng, dỗ dành, quyến rũ mà lời nhạc rất đơn sơ đầy tình quê mộc mạc. Chỉ cần một dòng sông xưa, một con đường cũ, một hàng cây xanh là đủ để đánh thức cả một nỗi niềm quê hương – đã từng tiềm ẩn trong quá khứ – Lời nhắn nhủ “này người yêu dấu, anh muốn đưa em về dòng sông xưa làng cũ…thăm ngôi trường cũ…thăm con đường cũ…” không chỉ là lời hẹn của đôi lứa, mà là lời thì thầm của những kẻ đi quá xa, mong một ngày được trở về nơi mình từng bắt đầu. Dịu dàng chân thật, bài hát nhắc ta quê hương không bao giờ mất – nó chờ đợi ta, trong khói sương chiều, lặng lẽ bình an như hàng cây xanh lá thắm ngàn năm.

 Trong lời Việt của Lữ Liên, bản nhạc“Đôi Bờ” mang hai nhịp thở: một nhịp của chia lìa tuyệt vọng, và một nhịp của giấc mơ hồi hương. Khi nghe “bóng con thuyền vượt ngàn trùng…Mãi mãi mất nhau”, ta tưởng như đó là một cuộc biệt ly không còn đường trở lại. Thế nhưng, ở cuối bài, hình ảnh “đêm qua anh mơ bóng quê hương…đứng dưới bóng mát…đón em khi tan trường” lại hiện ra như một phép mầu nhỏ. Các bạn ơi! Đó không phải là thực tế – Đó là giấc mơ của những người đã mất quá nhiều, chỉ còn chút ký ức để níu lại. Giữa hai bờ tuyệt vọng và hy vọng, bài nhạc nhắc ta rằng: đôi khi, chính giấc mơ là nơi duy nhất ta còn có thể gặp lại nhau. Người nhạc sĩ nghiệp dư trong bài hát là quân nha sĩ Lý Văn Quý, với giọng hát sống động và truyền cảm.

Chắc ai trong chúng ta cũng nằm lòng bản nhạc “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật Ngân & Y Vũ. Câu hát “Nàng đã thay một lối về. Quên cả người trong gió mưa” làm ta liên tưởng đến câu thơ đầy mộng mơ “Em là gái trong song cửa, anh là mây bốn phương trời”. Là tiếng thở dài của những phận người bị hoàn cảnh đẩy xa nhau, giống như bao đôi lứa bị chia lìa do thời cuộc: một chàng trai lên đường làm nhiệm vụ, một người phải rời quê vì chiến cuộc, như trong câu “Đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Rỏ ràngbài hát trang trải đúng nỗi niềm của những Đôi Bờ định mệnh: yêu nhau mà không đến được với nhau, không phải vì lỗi của ai, mà vì đời đã chọn cho họ một con đường khác. Con đường của trai thời loạn.

            Bạn mến, có những cuộc ra đi tưởng như chỉ là một cơn mộng dữ giữa trùng trùng sóng gió. Từng chúng ta năm ấy bước lên con thuyền không hẹn ngày trở lại, mang theo một niềm tin mỏng manh đến mức chỉ cần một cơn gió ngược cũng đủ làm chao đảo. Giữa biển đời mịt mù, đôi khi chính trái tim cũng mỏi mòn, không biết đâu là bến, đâu là bờ, đâu là nơi mình sẽ gọi “miền đất hứa”.

Thế rồi trời đất vẫn âm thầm nâng đỡ. Sau bao năm bụi mờ phủ lên ký ức, “Tạ ơn đời đã ban, Cám ơn người cưu mang, Thuyền được về bến đỗ – Giữa biển đời ly tan”— Nơi đất nước dang tay rộng đón mình, nơi gia đình được dựng lại từ những viên gạch đầu tiên của hy vọng. Từ một cuộc ra đi vô vọng, từng chúng ta đã tìm thấy một mái ấm, một hạnh phúc không chỉ nở hoa mà còn kết trái, nuôi dưỡng nhau trong tin yêu của những ngày tươi sáng trước mắt “Nhìn hoa trái đẹp đời – 50 Năm đắp xây, hạnh phúc trong tình đầy

Để từ đó trái tim học cách biết ơn. Biết ơn đất nước đã mở cửa đón mình. Biết ơn cuộc đời đã cưu mang mình. Biết ơn người bạn đời đã cùng mình đắp xây một mái nhà đầy ắp tiếng cười. Và biết ơn chính mình — người đã đi qua nửa thế kỷ bụi mờ mà vẫn luôn ráng giữ mình làm một người tốt, trân quý tất cả những gì đã nhận để sẳn sàng chia xẻ cho những kẻ kém may mắn. Vì bạn ơi, trong lớp bụi của năm tháng, có những hạt bụi làm cay mắt, nhưng cũng có những hạt bụi lấp lánh như ánh nắng ấm áp cuối chiều, mà nếu bạn biết nhặt lấy, dành giụm và nâng niu, chúng sẽ thành những câu chuyện đẹp, nhân ái và đáng nhớ.

Mời bạn đọc thưởng thức bản nhạc “50 Năm Bụi Mờ” của nhạc sĩ Lê Tín Hương. Một bản nhạc chan chứa tình cảm, và có lẽ là bản duy nhất được viết ra trong năm 2025 – tặng chung cho bao người buộc phải rời bỏ quê hương mình. Người trình bày bản nhạc là quân y sĩ Phạm Quang Tố. Điều làm người nghe xúc động nhất khi nghe “50 Năm Bụi Mờ “không phải là kỹ thuật hay sự trau chuốt, mà là giọng hát của một người bình thường — một người không đứng trên sân khấu lớn, không mang danh ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng lại hát bằng cả trái tim đã đi qua nửa đời phong sương. Trái tim của một đời người từng trải qua di cư 54, nay lại phải một lần nữa xa quê hương. Nên trong từng câu hát của anh, tôi nghe được hơi thở của một kiếp người: ấm và chân thật, mộc mạc mà thấm sâu. Có lẽ chính vì anh không phải ca sĩ chuyên nghiệp nên mỗi chữ, mỗi nốt đều mang một vẻ đẹp rất người. Không có sự phô diễn, chỉ có sự trải lòng. Không có sự hoàn hảo, chỉ có sự chân thành. Và đôi khi, chính sự chân thành ấy lại làm người nghe dễ rơi nước mắt hơn bất kỳ kỹ thuật nào.

Phải chăng qua giọng hát ấy, ta nhìn thấy hình ảnh của chính mình trong đó: một cuộc ra đi tưởng như vô vọng, những năm tháng bão tố dập dồn, những lúc nguyện cầu khi niềm tin quá mong manh. Đồng thời cũng đồng cảm với tấm lòng biết ơn dành cho đất nước đã cưu mang, cám ơn cuộc đời đã cho mình một tương lai, cho mình đắp xây hạnh phúc từ những điều căn bản nhỏ bé nhất.         Để chợt thấy giờ đây “hoàng hôn đến hững hờ – Nghe từ cõi hoang sơ, hồn xưa cũng bụi mờ”

Bạn đọc thân mến, khi tôi gần chấm dứt bài viết của mình, tôi nhân được bản nhạc “Đôi Bờ Xa” của NS. Lê Tín Hương. Bản nhạc là một giai điệu nâng niu từng nỗi nhớ, còn ca từ thì như nối dài thêm câu chuyện Đôi Bờ, bất chợt đến và chạm vào nơi sâu nhất, nơi những con sóng ký ức vẫn còn thì thầm. Như một hơi thở dài của biển đêm. Giai điệu mềm, chậm, nhưng không hề buồn rũ vì nó mang cái buồn của người từng trải, của những bước chân đã đi quá nửa đời người nhưng vẫn còn ngoái về phía quê hương. Để biết rằng tình người, tình quê, tình đời… vẫn còn đậm đà. Người nghe có cảm giác như mình đang đứng trước một đại dương thật sự – rộng, sâu, và đầy những điều khó gọi thành tên. Sóng trong bài hát không chỉ là sóng biển, mà là sóng lòng: những đợt nhớ, đợt thương, đợt tiếc nuối của một đời người xa xứ.

Cao trào của cảm xúc nằm ở đoạn “Dẫu đôi bờ xa nhưng tình ta mãi đậm đà”. Ở đây, giai điệu nâng lên nhẹ nhàng, không bi lụy, mà như một lời tự nhủ, một lời hứa âm thầm. Người nghe cảm nhận được một thứ tình cảm rất đẹp: không đòi hỏi, không trách móc, chỉ lặng lẽ tồn tại — như một dòng nước ngầm chảy mãi giữa hai bờ. Khi bản nhạc kết thúc, người nghe không thấy nặng nề. Ngược lại, có một sự bình yên rất lạ. Như thể sau bao nhiêu năm đi qua bão giông, cuối cùng ta cũng hiểu rằng: có những điều không thể gặp lại, nhưng vẫn có thể giữ lại. Có những bờ xa không thể bước tới, nhưng vẫn có thể đứng từ bên này mà thương.

“Đôi Bờ Xa” vì thế không chỉ là một bản nhạc. Nó là một lời tâm sự của cả một thế hệ, là tiếng thở dài của những người đã rời đất nước nhưng tâm hồn vẫn còn gắng bó với quê hương.

Quý bạn thân mến, nhìn lại hành trình nửa thế kỷ phủ bụi mờ, ta chợt hiểu rằng mỗi đời người, dù đi xa đến đâu, cũng mang trong mình một sợi dây vô hình buộc về quê cũ. Những năm tháng lưu lạc tưởng như chỉ là chuyện riêng của một gia đình, một kiếp người, nhưng thật ra lại hòa vào câu chuyện lớn hơn của cả dân tộc – câu chuyện của những đôi bờ đã từng bị chia cắt, của những con tim phải rời nhau trong lặng lẽ, của những bước chân ra đi trong âm thầm mà không biết ngày trở lại.

Và chính trong khoảnh khắc nhận ra mình đã tìm được bến đỗ, ta lại thấy rõ hơn nỗi mong manh của những phận người đứng hai phía dòng sông lịch sử — luôn mang theo niềm tin lúc đầy lúc vơi, mang theo nỗi nhớ lúc sáng lúc mờ, nhưng chưa bao giờ thôi hy vọng một ngày nào đó được nhìn thấy nhau trong bình yên.

Quý bạn đọc thân mến, khi nhìn lại những Đôi Bờ đã đi qua theo thời gian, ta mới hiểu rằng lịch sử Việt Nam không chỉ viết bằng chiến thắng đẩm máu, chiếm đồi này hay đồn bót kia, hoặc những bản hiệp định trên giấy tờ, mà còn bằng những khoảng cách: khoảng cách của một cây cầu bị đánh sập, của một lằn vĩ tuyến phi quân sự vẫn bị mưu mô lấn chiếm trong bóng tối, của một phòng tuyến bị đẩy xuống, của một dòng sông đổi vai trò, và của một đại dương mênh mông. Nhưng điều kỳ lạ hơn nửa là càng nhiều Đôi Bờ, người Việt càng học cách tìm nhau. Từ những người di cư 54, đến những gia đình chờ tin nhau dù đã có con sông Bến Hải và vĩ tuyến 17, rồi những con thuyền vượt biển sau 1975 mang theo hy vọng mong manh…tất cả đều cho thấy một điều: khoảng cách chưa bao giờ đủ lớn để dập tắt khát vọng tự do. Và điều đẹp nhất không phải là khi hai bờ liền lại, mà khi ta nhận ra trong sâu thẳm của trái tim, có những tiếng gọi chào, những nhung nhớ, những thương yêu, tình quê hương, gởi qua âm nhạc và thi ca, là động lực giúp ta hiểu thêm rằng chưa bao giờ tồn tại một dòng sông đủ lớn, đủ mạnh để chia cắt tình người. Những đôi bờ lịch sử rồi sẽ rời xa, thay vào đó là những Đôi Bờ của lòng người, nơi ta vẫn hướng về nhau, dù ở nơi nào cũng tìm đường đến với nhau – như bao trăm ngàn người Việt bên ngoài Việt Nam đã và đang tiếp tục bảo lãnh thân nhân mình đến sống cạnh nình, chung bờ với mình – hay gởi tiền về giúp xóm làng, người quen xưa – là điều sẽ còn mãi.

Mong rằng thi ca âm nhạc, khi đưa vào bài viết Đôi Bờ này, không phải để làm loãng tính chất lịch sử khắc nghiệt của Đôi Bờ, cũng không làm bài viết mềm đi. Nó làm cho trái tim người đọc…ấm lại, đồng thời làm thêm một điều rất nhỏ mà lại rất đẹp: rót vào câu chuyện lịch sử một hơi thở của hối tiếc, của một lời xin  lỗi, của hy vọng và tha thứ độ lượng. Để nói lên rằng, không có dòng sông nào có thể vĩnh viễn làm chia cách tình người, nếu chúng ta nhìn lại những trang lịch sử Đôi Bờ bằng trái tim. Với những hiểu biết vừa lý vừa tình ở trên đã giúp Đôi Bờ, vốn nguyên thủy là một bài viết khô khan, trở thành một bài viết không chỉ để đọc, mà để cảm thông, để nhớ và để thương. Một bài viết về hành trình cho những người đứng giữa đôi bờ, nhưng trái tim thì chưa rời bờ nào. Và rằng âm nhạc luôn là chiếc cầu duy nhất, tình cảm nhất, nhẹ nhàng nhất, giúp nối những linh hồn đã tản mác khắp nơi. Cho thấy CS diệt được mọi thứ nhưng không thể nào cấm được những cái mà chúng từng sợ nhất: Tinh Thần Tự Do Dân Chủ, Nền Giáo Dục Nhân Bản, nền Văn Học Nghệ Thuật và Nhạc Vàng của Miền Nam Việt Nam.

Vĩnh Chánh
tháng 4, 2026

Tuesday, July 7, 2026

Nguyễn Thanh Việt: The Sympathizer

LTS: Bài điểm sách này được viết khi cuốn tiểu thuyết The Sympathizer mới xuất bản và được ca ngợi nồng nhiệt từ giới phê bình, độc giả Bắc Mỹ. Nhân cuốn tiểu thuyết được chuyển thể sang bộ phim 7 tập do kênh truyền hình HBO thực hiện, Việt Báo xin đăng lại nơi đây cùng với những bài liên quan khác.


Con người mắc kẹt trong lịch sử và lịch sử mắc kẹt trong con người. Nhà văn Mỹ James Balwin nói vậy trong tập tiểu luận Những ghi chú của đứa con bản xứ (Notes of a Native Son). Lịch sử không mắc kẹt trong Nguyễn Thanh Việt, tác giả cuốn tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm tình viên, Kẻ hai mặt, Kẻ nằm vùng, Kẻ nội tuyến) xuất bản năm 2015, nó bùng nổ dữ dội với nỗi phẫn nộ rát bỏng hiếm thấy trên một trang viết văn học nào.
    Năm 2016, cuốn The Sympathizer đi vào lịch sử với giải thưởng Pulitzer bộ môn văn học, giải thưởng cao quý nhất của Hoa Kỳ, trao tặng hằng năm cho những tác giả xuất sắc nhất thuộc các ngành văn chương, báo chí. Trước đó cuốn sách đã được văn giới Bắc Mỹ không tiếc lời ca ngợi như một tác phẩm tiểu thuyết sâu sắc, có chiều kích lịch sử và chính trị cao rộng; là tiếng nói mới đầy khích động trong văn học Mỹ; là cuốn tiểu thuyết bắt người ta phải đánh giá lại chẳng những chiến tranh Việt Nam mà cả cặp phạm trù chính trị-văn hóa; là một tác phẩm văn học đúng nghĩa nhất bởi nó “mở rộng ý thức con người ra khỏi giới hạn của thân xác và những cảnh huống cá nhân.” Vân vân và vân vân. Đâu đó người ta còn so sánh Nguyễn Thanh Việt với Joseph Conrad, Graham Greene, Denis Johnson và George Orwell, những tác giả của văn học kinh điển phương Tây.
    Dưới đây tôi chỉ xin trích dẫn câu nói của ông Robert Olen Butler, một nhà văn viết nhiều về Việt Nam, cũng đoạt giải Pulitzer với cuốn Bửu Sơn Kỳ Hương (A Good Scent from a Strange Mountain). Ông nói về Nguyễn Thanh Việt như sau, súc tích gọn gàng nhưng đầy đủ:
    "Nguyễn Thanh Việt chẳng những đã đem lại tiếng nói hiếm hoi và trung thực cho khối tác phẩm văn học Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam, với cuốn sách, anh còn vượt qua những đường biên lịch sử, chính trị, quốc gia, và nói lên được chủ đề muôn thuở trong văn học: cuộc kiếm tìm bản ngã và bản nguyên ở tầm mức phổ quát. The Sympathizer là một tác phẩm đầu tay sáng chói của một nhà văn có chiều sâu và tài năng."
     Hiển nhiên, với những lời ca ngợi như thế, đây quả là một thành tựu to tát của một tác giả di dân da màu, với tác phẩm đầu tay, đã có khả năng và tài năng đi thẳng vào “dòng chính” của văn học nghệ thuật Bắc Mỹ, vốn là một môi trường đa dạng và cực kỳ khó khăn chen chân vào. Nếu không có thực tâm và thực tài, cộng thêm chút may mắn, chuyện đó chẳng bao giờ có thể xảy ra. Bởi thế, có lẽ tôi chẳng nên nói gì thêm về tác phẩm của Nguyễn Thanh Việt, có ca ngợi cũng bằng thừa, và bài viết này giản dị chỉ là những cảm nhận và suy nghĩ cá nhân về một tác phẩm tầm vóc trong mắt nhìn lịch sử.
 
***
 
Hoa Kỳ là quốc gia yêu chuộng sách vở và quan tâm nhiều đến lịch sử. Do những tương quan và hệ quả trực tiếp của Hoa Kỳ đối với lịch sử Việt Nam thời cận-hiện-đại, đã có một số lượng khổng lồ sách vở viết về chiến tranh Việt Nam, cả phi hư cấu lẫn hư cấu, nhưng từ lâu có sự khô hạn trầm trọng những tác phẩm tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam mà tiếng nói chính là người Việt. Những tiểu thuyết gia lừng lẫy có chỗ đứng vững vàng trên văn đàn Mỹ hiện nay như Tim O’Brien, Philip Caputo, Larry Heinemann viết nhiều về chiến tranh Việt Nam, nhưng do kinh nghiệm bản thân, họ viết dưới con mắt một chiến binh Hoa Kỳ. Đọc tác phẩm của họ, chúng ta thấy hình ảnh người Việt chỉ là những bóng mờ, không, những bóng ma chập chờn ẩn hiện thì đúng hơn. Người Việt không có tiếng nói nào trong đó, hoặc nếu có thì cũng chẳng ai thèm nghe họ nói gì. Cuốn Bửu Sơn Kỳ Hương của Robert Olen Butler có lẽ là trường hợp ngoại lệ hiếm hoi. Bản dịch cuốn Nỗi buồn chiến tranh (The Sorrow of War) của Bảo Ninh, và một số tác phẩm khác của các tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Việt, tuy có gây một vài tiếng vang, nhưng phần lớn chỉ được nhắc đến trong phạm vi đại học và các buổi hội thảo chuyên ngành. (Còn các sản phẩm phim ảnh của Hollywood thì khỏi cần nói ra, thú thật, tôi ít xem vì thấy buồn cười, thậm chí xấu hổ, mỗi khi trông thấy một nhân vật Việt Nam nào xuất hiện trên màn ảnh.) Bởi thế sự ra đời của một tác phẩm như cuốn The Sympathizer là cần thiết và quan hệ, nó lấp được lỗ hổng to tướng này trong văn học Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam.
    Đọc The Sympathizer tôi có cảm giác sự phẫn nộ của nhân vật chủ thể ngôi thứ nhất, và ở chừng mực nào đó, của chính tác giả, tràn ứ trên mỗi trang viết. Với nhiều dụng ý có tính ám dụ, Nguyễn Thanh Việt đã xây dựng một nhân vật hư cấu không điển hình – nếu không muốn nói là phản anh hùng sử thi – một nhân vật vừa chính diện vừa phản diện, đen trắng không rạch ròi, phân minh, một kẻ hai mặt, hai mang, chính tà lẫn lộn.
 
Không nhạc nhiên chút nào, đôi khi tôi mơ thấy mình giơ tay kéo cái mặt nạ ra khỏi mặt, và chợt thấy cái mặt nạ ấy chính là khuôn mặt tôi.
 
Hắn tự thú nhận như thế.

Hắn (nếu tôi có thể gọi nhân vật không tên tuổi ấy như thế) là một đứa con đẻ hoang. Mẹ hắn là người giúp việc cho một linh mục người Pháp và có lẽ trong một cảnh huống nào đó bà bị ông cha hiếp dâm, đẻ ra hắn. Hắn thương mẹ nhưng thù ghét cha mình khôn tả và chỉ mong cha mình chết. Tuổi thơ hắn sống trong tủi nhục và mặc cảm, mặc cảm của đứa con vô thừa nhận. Nhưng lớn lên nhờ thông minh hắn được ăn học đàng hoàng, thậm chí còn sang Mỹ du học, và khi về nước hắn trở thành người làm việc cho cả hai phe lâm chiến. Hắn đeo lon đại úy, làm sĩ quan tùy viên cho một ông tướng, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, nhưng đồng thời là một gián điệp được cục R gài vào; hắn đều đặn báo cáo mọi bí mật quân sự của phe miền Nam cho tổ trưởng Mẫn trong tổ gián điệp phe Cộng sản. Thực ra, hắn, Mẫn và Bốn là ba người bạn chí thiết từ thuở nhỏ. Ba cậu bé “cắt máu ăn thề” xem nhau như ruột thịt và quyết chí bảo vệ lẫn nhau trong mọi trường hợp. Câu chuyện “Tam Quốc Chí vườn đào kết nghĩa thời đại” này lại chính là xung lực đối nghịch giữa các nhân vật trong cuốn sách. Mẫn theo cách mạng, hành tung bí mật và tuyệt đối trung thành với cách mạng. Bốn, ngược lại, đi lính Quốc gia thứ dữ, từng là sát thủ trong chiến dịch Phượng Hoàng chuyên ám sát Việt Cộng. Cha của Bốn bị Cộng sản giết hại nên hắn đi lính để giết Việt Cộng trả thù cho cha chứ chẳng có lý tưởng gì. Trong bộ ba, Bốn là người mờ nhạt nhất.
    Xây dựng các nhân vật như thế, chúng ta nhìn thấy ngay dụng ý của tác giả: Lịch sử và định mệnh khốc liệt đã đẩy anh em vào chỗ chém giết nhau. Và nguyên do cho thảm kịch ấy bắt nguồn từ sự việc một quốc gia bị hãm hiếp.
    Một linh mục Pháp hiếp dâm một người đàn bà Việt Nam, sinh ra hắn. Tôi đồ đây là một ám dụ. Ông linh mục chính là nước Pháp và bà mẹ là nước Việt Nam khốn khổ. Ông Cha miệng nhân danh sứ mệnh cao cả đi rao giảng ánh sáng Thiên Chúa nhưng thực tế thì hiếp dâm một phụ nữ, cũng như nước Pháp nhân danh “sứ mệnh đi khai hóa các dân tộc kém văn minh” để biện minh cho hành động xâm lăng chiếm nước, như lời ông thủ tướng Pháp Jules Ferry hùng hồn tuyên bố lúc Pháp đem quân vào đánh chiếm Việt Nam. Hắn thương mẹ nhưng căm thù cha và chỉ mong cha mình chết! Đạo lý đi chỗ khác chơi. Ở đây chỉ có lòng phẫn nộ và căm thù.
    Hắn theo cách mạng một phần vì hắn nhìn thấy bộ mặt thối nát, đạo đức giả của đám lãnh đạo miền Nam lúc đó mà đại diện chính là ông tướng, sếp của hắn. Ông tướng thuở trước đi lính cho Pháp, kẻ thù của dân tộc, bây giờ lại tiếp tục nghe lệnh Mỹ quay súng giết hại dân mình. Đại diện cho quyền lực tối cao của nước Mỹ là Claude, một anh CIA, và hành tung của anh ta thì bí mật khôn lường. Trong mắt hắn thì cả Pháp lẫn Mỹ đều là đế quốc. Đế quốc đi chiếm nước, chiếm bằng vũ lực hay bằng những thủ đoạn gian manh nhưng cực kỳ tinh vi đều đáng ghét và đáng bị đánh đuổi như nhau.
    Sau khi Sài Gòn thất thủ, quốc gia thống nhất, mặc dù muốn ở lại xây dựng đất nước thời hậu chiến, nhưng theo lệnh của Mẫn, hắn theo gia đình ông tướng chạy sang Mỹ để tiếp tục nằm vùng ở hải ngoại. Từ đây, câu chuyện trở nên bi hài. Hắn đều đặn gửi thông tin những hoạt động của ông tướng về cho Mẫn, nhưng đồng thời hắn cũng lao đầu vào những cuộc phiêu lưu mới trên đất Mỹ. Hắn dính líu vào chuyện tình với cô thư ký người Mỹ gốc Nhật làm việc chung. Thậm chí hắn còn tán tỉnh cả cô con gái cưng của ông tướng. Có dạo hắn sang Philippines phụ trách phần vụ hướng dẫn các diễn viên phụ người Việt tuyển từ trại tị nạn trong một cuốn phim về chiến tranh Việt Nam. Nhưng quan trọng nhất hắn vẫn theo dõi hoạt động kháng chiến phục quốc do ông tướng và thủ hạ của ông âm thầm bàn tính kế hoạch. Ông tướng nghi có nội gián, hắn bảo ông kẻ ấy chính là gã thiếu tá say trong bọn. Để đánh lạc hướng và lấy lòng tin của ông, hắn đồng lõa với Bốn đi ám sát gã thiếu tá say. Bốn bắn gã thiếu tá say chết tươi ngay trước cửa căn hộ của gã. Chưa hết, sau đó ít lâu sau khi ở Philippines về, hắn tự tay giết luôn một anh nhà báo tên Sonny, bạn học cũ của hắn, vì anh này viết những bài báo bất lợi cho công cuộc kháng chiến của ông tướng. Hắn giết hai mạng người vô tội và cái giá rất đắt hắn phải trả là lương tâm hắn không ngừng cắn rứt.
    Ở phần này cuốn sách được viết như một cuốn tiểu thuyết trinh thám gián điệp với những tình tiết hồi hộp và lôi cuốn. Tâm lý đầy phức tạp của nhân vật, sự xâu xé trong tâm tư kẻ sát nhân, cũng được tác giả mổ xẻ với ngòi bút sắc sảo.
    Cuối cùng với sự yểm trợ tài chính của Claude CIA và một chính trị gia hữu khuynh người Mỹ, ông tướng gửi người về biên giới Thái Lan để mưu đồ việc kháng chiến. Dĩ nhiên Bốn là người đầu tiên xung phong. Cả vợ lẫn đứa con trai duy nhất của Bốn bị lạc đạn chết tại phi trường Tân Sơn Nhất trong lúc chạy lên phi cơ di tản. (Hết cha rồi đến vợ con đều chết do đạn Việt Cộng, nhân vật Bốn này của tác giả có vẻ như bị tô mầu, sơn phết hơi đậm.) Bốn từ đó sống như cái máy, không thiết tha với cuộc sống nữa mà chỉ chờ đợi cơ hội phục thù, dù biết trở về là đi vào cõi chết. Hắn gửi báo cáo về cho Mẫn và Mẫn ra lệnh cho hắn không được về. Nhưng hắn cãi lệnh vì hắn cảm thấy phải đi theo để bảo vệ tính mạng cho Bốn. Hắn biết đây là một cuộc mạo hiểm tự sát. “Làm sao tôi có thể cùng lúc vừa phản bội vừa cứu mạng Bốn đây?” Lòng hắn rên rỉ lời than thở như thế.
    Bị giằng xé khủng khiếp nhưng cuối cùng hắn chọn con đường ra đi. Kết quả không tránh khỏi là cả bọn bị phục kích chết hết, ngoại trừ hắn và Bốn bị bắt về giam tại trại cải tạo. Tại đây suốt một năm trời hắn phải viết lời khai thú tội và lời khai báo ấy chính là cuốn tiểu thuyết The Sympathizer. (Cuốn sách được viết dưới dạng lời khai báo của một tù nhân với người Chỉ huy trưởng trại tù.) Điều bất ngờ nhất cho hắn là viên Chính ủy của trại tù, người nắm toàn quyền sinh sát trong tay, lại chính là Mẫn! Mẫn sau khi nghe tin hắn cãi lệnh, nhất định theo toán lính kháng chiến về biên giới, đã tìm mọi cách xin về làm Chính ủy trại tù mà Mẫn biết chắc hắn sẽ bị đưa về giam giữ. Đây là phần ba của cuốn tiểu thuyết, được viết như kịch bản một cuốn phim kinh dị, đôi chỗ khiến người đọc liên tưởng đến đoạn cuối cuốn 1984 của nhà văn George Orwell, lúc nhân vật Winston bị đưa vào phòng 101 để tẩy não. Hắn bị tra tấn tàn bạo và có lúc thần trí như điên dại. Cuối cùng hắn đối mặt Mẫn. Vào những ngày cuối của cuộc chiến, Mẫn bị bom napalm đốt cháy khuôn mặt, mặt mũi biến dạng như quỷ sống.
    Chính vào lúc thần trí như rơi vào cõi sa mù ấy, hắn bỗng nhận thức ra một điều là hắn và những người như hắn, những kẻ hy sinh quá nhiều cho một lý tưởng cao cả, tất cả đều bị phản bội! Chính Mẫn cũng phải thú nhận như thế sau khi tranh luận với hắn. Có lúc Mẫn lạnh lùng bảo hắn: “Now that we are the powerful,  we  don’t need the French or the Americans to fuck us over. We can fuck ourselves just fine.”
    Câu nói  của  Mẫn  có lẽ là lời thú nhận đau xót nhất cho những kẻ hy sinh cả đời người cho lý tưởng cách mạng để cuối cùng nhìn ra sự thật là sự hy sinh đó của mình bị người ta ném đi như ném một món đồ phế thải. “Giờ đây chúng ta có quyền lực trong tay, chúng ta chẳng cần bọn Pháp bọn Mỹ đào mả nhà chúng ta. Chúng ta tự đào mả nhà mình cũng ra trò không kém.” Thật là trò hề, “một cuộc cách mạng đấu tranh cho độc lập và tự do lại có thể biến những thứ ấy thành cái gì vô giá trị hơn cả một con số zero.”
    Cuối cùng Mẫn sắp xếp đưa hắn và Bốn về Sài Gòn, và còn lo cho hai người tìm đường vượt biên. Nhưng sau những trải nghiệm bầm giập, cay đắng ê chề như thế, lý tưởng của hắn, cái lý tưởng đặt không đúng chỗ và không đúng thời, có bị tiêu tan hay sứt mẻ đi không? Hoàn toàn không! Hắn vẫn tự xem mình là người chiến sĩ cách mạng, đang đi tìm một cuộc cách mạng khác, vẫn hy vọng dù đôi lúc tự nhận là kẻ mơ mộng hão huyền, vẫn chờ đợi một cơ hội đúng lúc và một chính nghĩa sáng ngời. Hắn là kẻ không bao giờ bỏ cuộc! Cuốn sách chấm dứt bằng câu: “Chúng tôi sẽ sống!” như một lời hứa hẹn tương lai.
    Chúng tôi sẽ sống và sẽ tiếp tục chiến đấu cho dù bị phản bội. The Sympathizer là cuốn tiểu thuyết nói về sự phản bội.
    Nhưng  phải  chăng  cuộc  cách  mạng  nào từ trước đến giờ cũng bị phản bội. Phản bội lại chính những lý tưởng cách mạng cao cả tưởng chừng không bao giờ có thể lay chuyển. Lịch sử nhân loại chứng minh điều đó. Phản bội nối tiếp phản bội dẫn đến tình trạng con người ngày nay sống trong chân không lý tưởng. Lý tưởng cạn kiệt trong một môi trường sống tù túng, ngột ngạt. Không có lý tưởng người ta sống như những thây ma biết đi, những zombie trong loạt phim kinh dị The Walking Dead. Ngày nay chúng ta đừng nên trách các thanh thiếu niên chỉ biết suốt ngày ngồi lê la ngoài hàng quán hay chúi đầu vào những trò chơi video vô nghĩa và vô bổ. Chúng ta cũng đừng ngạc nhiên khi thấy hàng triệu thanh thiếu niên nước Mỹ đổ xô đi ủng hộ ông Bernie Sanders tranh cử Tổng thống. Họ đều là những người thiếu lý tưởng và khao khát lý tưởng. Họ là những người đáng thương, đáng thương vì bị phản bội.
    The Sympathizer là cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều chủ đề phức tạp, đa chiều kích, và có tham vọng giải mã và giải tỏa một số những ngột ngạt ấm ức bấy lâu trong lòng những người thuộc thế hệ hậu chiến. Họ không trực tiếp tham gia cuộc chiến, không bị những đau thương và thù hận chi phối nhận thức nên cái nhìn của họ là tương đối khách quan. Do sự phi lý của cuộc chiến ấy, họ có cái nhìn gay gắt, có lẽ không đồng quan điểm với đa số những thành phần thủ cựu thuộc cả hai bên thắng và thua trận. Quan trọng hơn cả, cái nhìn của họ sẽ góp phần vào việc thẩm định đúng đắn lịch sử sau này.
    Công tâm mà nói thì không nên nhìn một tác phẩm tiểu thuyết từ góc độ chính trị, nhưng The Sympathizer là một cuốn tiểu thuyết chính trị từ những dòng chữ đầu tiên, chính trị xã hội và chính trị lịch sử đan xen nhau, khó tìm được một chương nào của cuốn sách không liên quan đến các vấn đề chính trị. Từ lịch sử chính trị của cuộc chiến Việt Nam ba mươi năm cho đến chính trị nước Mỹ. Và đấy là một quan điểm chính trị nặng phần tả khuynh. Tác giả phê phán gay gắt việc lâm chiến của nước Mỹ vào Việt Nam đã đành mà còn tỏ ra không chút cảm tình với văn hóa và đời sống nước Mỹ. Biểu tượng của nước Mỹ là anh Claude CIA, thông minh, tài năng xuất chúng nhưng cũng cực kỳ lưu manh và xảo quyệt. Còn phía miền Nam thì sao? Đại biểu cho phe lãnh đạo miền Nam trong thời chiến là ông tướng, kẻ liếm gót thực dân và đế quốc. Còn tiêu biểu cho phe chống Cộng là Bốn, một kẻ giết Việt Cộng vì căm thù cá nhân chứ chẳng có lý tưởng gì. Vì là tiểu thuyết nên tác giả sử dụng các biểu tượng và ẩn dụ cho quan điểm lịch sử của mình. Trong mắt tác giả đấy là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, anh em mỗi người một chiến tuyến. Mặc dù người Mỹ là thủ phạm chính nhưng người Việt đã chẳng những không thương xót nhau mà còn quay ra thẳng tay giết hại lẫn nhau. Quan điểm này đúng hay sai có lẽ sẽ còn được tranh cãi dài lâu và tùy vị trí cá nhân, không một quan điểm nào là chân lý. Điểm đáng nói là cái lý tưởng cao cả cho cuộc chiến tranh ấy, cái lý tưởng chống Mỹ cứu nước, ở đây đã bị giải thiêng.
 
***
 
Sự Thật lịch sử có lẽ không đơn giản, không trắng đen rành rọt như tác giả vẽ ra trong cuốn tiểu thuyết dày gần 400 trang được viết với ngòi bút nghệ thuật hiếm có. Lịch sử là một con voi và tất cả chúng ta đều là những thầy mù xem voi. Hơn nữa, “Tiểu thuyết gia không phải là kẻ hầu của sử gia.” Nhà văn Milan Kundera có lần nói như thế. Rất tiếc ở đây tiểu thuyết gia Nguyễn Thanh Việt đã theo hầu sử gia một cách khá tận tình, thậm chí có lúc ông đội chiếc mũ sử gia, lúc khác mũ chính trị gia. Theo tôi, đấy là nhược điểm của cuốn tiểu thuyết The Sympathizer.
 
– Trịnh Y Thư

Wednesday, July 1, 2026

Everything You Need to Know about 4th of July Festivities!

Happy Independence Day, Surf City, USA!
Join us as we celebrate America's 250th birthday and the 122nd Annual Huntington Beach 4th of July Celebration—the largest Independence Day celebration west of the Mississippi!
The weekend is packed with family-friendly festivities, including:
• Pier Plaza Festival & Carnival (July 3 & 4 from 12-9 p.m. & July 5 from 12-6 p.m.)
• Surf City 5K Run (July 4 at 7 a.m.)
• Kiwanis Pancake Breakfast (July 4 from 7-10 a.m.)
• 122nd Annual 4th of July Parade (10 a.m.)
• A.K.'s Surf City Motor Club Car Show (July 4 from 1-4:30 p.m.)
• Main Street Block Party (July 4 from 3-8 p.m.)
• Fireworks Over the Ocean, Presented by the Mayer Family Foundation ( July 4 at 9 p.m.)
• Community Bike Parade (July 5 at 11:30 a.m.)
Please plan ahead for street closures, parking impacts, and heavy traffic throughout the weekend. If you're planning to watch the parade, viewing areas may not be staked out before 7 a.m. on Friday, July 3, and all posted staking rules must be followed.
As a reminder, only Safe & Sane fireworks are legal in Huntington Beach and may only be used on July 4 from 12:00 p.m. to 10:00 p.m. on residential streets. To report illegal fireworks, use the MyHB app or call (714) 536-LOUD (5683). Call 911 only for emergencies.
For event schedules, street closures, parking information, fireworks safety, tickets, and everything you need to know before you go, visit the City's website at https://www.huntingtonbeachca.gov/news_detail_T4_R644.php or the 122nd Huntington Beach Independence Day Event at https://www.hb4thofjuly.org/.
A special thank you to PSQ Productions, City staff, volunteers, public safety personnel, and our many community partners for helping make this cherished tradition possible.
We wish everyone a safe, memorable, and patriotic Independence Day in Huntington Beach!

122nd Independence Day Event Info – America 250

Happy Independence Day, Surf City, USA!
On this day, we celebrate what is essentially the start of American history: the day our founding fathers signed the Declaration of Independence and the 13 colonies declared themselves free of the British Empire. We come together to celebrate America's birthday, when a new nation was born. This year, we celebrate 122 years of our beloved 4th of July Parade & Festivities! The City is excited to feature the following as part of the holiday weekend celebration:

Pier Plaza Festival and Carnival – Friday & Saturday (July 3 & 4), from 12 p.m. to 9 p.m. and Sunday (July 5), from 12 p.m. to 6 p.m.

Enjoy live entertainment, family-friendly vendors and activities, and carnival rides to begin your Independence Day weekend! Carnival tickets are available on-site and in presale at https://www.hb4thofjuly.org/festival

(scan the QR code).

Surf City 5K Run – Saturday, July 4, 2026, from 7 a.m. – 10 a.m.
For many, Independence Day starts with a family-friendly run along the 4th of July Parade route. For additional details regarding the race or registration information, please visit Surf City Run at https://www.hb4thofjuly.org/surf-city-run

.

To accommodate the race, the following street closures will be in place beginning at 5 a.m.

  • Pacific Coast Highway (Goldenwest Street to Beach Boulevard)
  • Main Street (Pacific Coast Highway to Gothard)

 Kiwanis Club of Huntington Beach Annual Pancake Breakfast at Lake Park, Saturday, July 4, 2026, from 7 a.m. to 10 a.m. 
Come get the best pancakes, hot sausage links, and a drink for $10 at Lake Park to support the Kiwanis Club of Huntington Beach. Purchase tickets at https://www.kiwanishb.org/4th-of-july-pancake-breakfast

. All proceeds benefit Huntington Beach children in need because that’s Kiwanis' mission!

122nd Annual Huntington Beach 4th of July Parade - Saturday, July 4, 2026, at 10 a.m.
The HB 4th of July Parade will feature more than 100 groups, including elected officials, military veterans, public safety personnel, marching bands, community groups, and others, as they make their way down Main Street in downtown Huntington Beach.

  • Please review the following information regarding the parade route, street closures, parking, and staking viewing locations.
  • The parade will start on Pacific Coast Highway and 9th Street, going from 9th Street to Main Street, where it will proceed up Main Street through downtown and residential areas, ending just past Yorktown Avenue.


Can’t make it to the parade? Watch live on KABC Channel 7. They will be broadcasting from Main Street & PCH at 10 a.m. 

A.K.’s Surf City Motor Club – Saturday, July 4, 2026, from 1 p.m. to 4:30 p.m.

Join Aaron Kaufman and other car enthusiasts on Main Street for a one-of-a-kind car show experience following the iconic 4th of July parade. Meet Aaron himself and enjoy vendor activations with the Main Street Block Party in the background.

Main Street Block Party – Saturday, July 4, 2026, from 3 p.m. to 8 p.m.

Spend your time between the 4th of July Parade and the Fireworks over the Ocean at the Main Street Block Party. Enjoy the sounds of the Ramsey Brothers and Redneck Rodeo from the Stage at Main and PCH before the spectacular Fireworks display in honor of America’s 250th anniversary.

Fireworks Over the Ocean, Presented by the Mayer Family Foundation– Friday, July 4, 2026, at 9 p.m.
Closing out the day's celebration will be an awe-inspiring fireworks show presented by the Mayer Family Foundation. The show will take place over the iconic Huntington Beach Pier, free to view from the beach or downtown. Early entry and general admission seating options are available for purchase at https://www.hb4thofjuly.org/fireworks

.

As a reminder, only safe and sane fireworks are legal in Huntington Beach and may only be discharged on July 4 from 12 p.m. to 10 p.m. on residential streets. More information on firework stand locations and safety tips is available at https://www.huntingtonbeachca.gov/government/city_clerk/fireworks_information.php
Opens in new window
.

To report illegal fireworks, please use the MyHB app or call (714) 536-LOUD (5683). Do not call 911 unless it is an emergency.

Community Bike Parade - Sunday, July 5, 2026, from 11:30 to noon
Staging Area: Main Street between Utica and Yorktown (in front of Civic Center)
Bike Parade begins at 11:30 a.m., ending at Main/PCH around 12:00 p.m. Stick around after the completion of the Bike Parade and enjoy lunch at one of your favorite local Downtown establishments!

Please note that Main St. will be closed from PCH to Yorktown from approximately 7 a.m. to 2 p.m. to accommodate the Community Bike Parade.

Staking a Parade Viewing Location

  • Staking out areas to obtain a viewing location for the Fourth of July Parade may not occur prior to 7 a.m. on Friday, July 3.
  • Areas on the parade route will be specifically marked "City of HB, no staking allowed”—these spaces are needed for event production and/or public safety, and staking is not allowed within those zones. 
  • It is important that no materials used to reserve public areas shall block or interfere with pedestrian access or vehicular traffic, or block those portions of sidewalks used for pedestrian access prior to 6 a.m. on July 4. Any items placed prior to that time will be removed.
  • Items placed on public property (including parking strips) are left at the owner’s risk and do not create a guarantee that the “staked out” area will remain available to whoever marked off the area.
  • When marking off sidewalk and roadway areas, non-defacing material must be used. Any adhesive material, including adhesive tape, is prohibited for use in reserving space for parade viewing. This includes, but is not limited to, the use of tape or other adhesives on trees, poles, and signs.
  • With these rules in mind, you can be prepared and find that perfect spot for the entire family.


Event Street Closures and Impacts
Note: The first three blocks of Main St. will be closed from 5 a.m. on July 4 through July 5 at approximately 2 p.m.

To accommodate the Parade, the following street closures will be in place from 5 a.m. to approximately 2 p.m.:

  • Pacific Coast Highway (Goldenwest Street to Beach Boulevard)
  • Main Street (Pacific Coast Highway to Gothard)
  • Portions of Walnut Avenue, Orange Avenue, 8th Street, 9th Street, and 10th Street

Traffic on Pacific Coast Highway will be detoured at Goldenwest Street and Beach Boulevard up to Garfield Avenue. Pacific Coast Highway will be fully open to traffic no later than 2 p.m. Residents and guests entering the downtown area from Goldenwest Street should enter at Palm Avenue or Orange Avenue.

City beach parking is only accessible at Beach Boulevard, and gates open at 5 a.m. Twin Dolphin Drive will be closed from 5 a.m. until approximately 2 p.m.

The Pier will be partially closed to the public all day and completely closed at 5 p.m.

Fireworks will be launched from the end of the Pier. The fireworks will start at 9 p.m.

Please remember to allow extra time for traffic to clear. Pacific Coast Highway will be heavily congested prior to, during, and especially after the fireworks show. Motorists can expect significant delays. Those who park in the parking structure and beach lots can expect to spend at least 90 minutes waiting to exit due to the volume of attendees. Please be patient and plan accordingly.

Event Parking

  • Parking at the Main Promenade parking structure will be a $40 all-day flat fee for July 4th and $30 for July 3rd and 5th
  • Pay as you enter, and no customer validations will be honored.
  • Yearly and monthly pass holders will be charged. Parking is NOT guaranteed.
  • In the City Beach Parking Lot, parking will cost $40 per vehicle space, and no spaces may be purchased for chairs, tables, or any other activity on July 4th, and $30 on July 3rd and 5th.
  • The only entrance to the parking lot will be at Beach Boulevard and Pacific Coast Highway. The gates will open at 5 a.m. on Saturday, July 4, 2026, and the public will not be allowed to line up in front of the parking lot gates until midnight.
  • Until then, you must find a legal parking space. Additionally, any vehicle, including RVs, attempting to remain in the parking lot from July 3 will be towed out of the parking lot at the owner’s expense.

People will not be allowed to occupy or place chairs and barbecues on the beach or in the parking lot until after 5 a.m. on July 4, 2026.

For additional information on the Huntington Beach 4th of July Festivities, please visit https://www.hb4thofjuly.org/

.

Thank you to PSQ Productions and City of Huntington Beach staff for their hard work and dedication to making this parade the biggest celebration west of the Mississippi! We wish everyone, residents and visitors alike, a safe and entertaining 4th of July at our City’s best community event. What better way to celebrate our Independence in Huntington Beach than with a parade, fireworks show off the pier, and bonfires on the beach?