Thursday, May 22, 2025

Authorship of Famous ‘Napalm Girl’ Photo Called Into Question A documentary film cast 50 years of photojournalism history into doubt.

Xin lưu ý các chỗ đề cập: 
1) Nick Ut đứng quá xa để chụp hình. 
2) Nick Ut lúc thì nói chụp bằng máy Leica, lúc thì nói chụp bằng máy Pentax. 
3) Ông Carl Robinson kể lại việc đổi tên tác giả phim thành Nick Ut.
 
Tác giả bức ảnh nổi tiếng ‘Cô gái Napalm’ bị đặt dấu hỏi
Một bộ phim tài liệu đã làm dấy lên nghi ngờ về 50 năm lịch sử báo chí ảnh.
Tác giả: Sarah Cascone
Ngày 16 tháng 5, 2025
 
Một bức ảnh chụp nhiếp ảnh gia gốc Việt Nick Ut lúc về già, cầm máy ảnh và đứng trước bản in lớn của bức ảnh nổi tiếng “Cô gái Napalm” – hình ảnh các em nhỏ Việt Nam, trong đó có một bé gái khỏa thân vừa khóc vừa chạy sau một vụ tấn công napalm trong Chiến tranh Việt Nam, với binh lính và khói lửa phía sau.
Nick Ut chụp với tác phẩm The Terror of War, thường được gọi là “Cô gái Napalm”, tại một triển lãm ở Ý năm 2022. 
 
Ảnh: Pier Marco Tacca/Getty Images.
 
Sau một cuộc điều tra sâu rộng được khơi nguồn từ bộ phim tài liệu The Stringer, quyền tác giả của bức ảnh The Terror of War – một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất lịch sử nhiếp ảnh – đang bị nghi ngờ nghiêm trọng.
 
Cả Associated Press (AP) và World Press Photo đều tiến hành điều tra nhưng không thể xác minh dứt khoát liệu Nick Ut, nhiếp ảnh gia gốc Việt được ghi nhận là tác giả bức ảnh đoạt giải Pulitzer, có thực sự là người đã bấm máy hay không.

Bức ảnh chụp năm 1972 ghi lại cảnh các em nhỏ Việt Nam hoảng loạn bỏ chạy sau một vụ không kích napalm nhầm của quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Trảng Bàng. Ở trung tâm là bé gái Phan Thị Kim Phúc, khi đó 9 tuổi, trần truồng và bị bỏng nặng. Bức ảnh trở thành biểu tượng phản chiến mạnh mẽ, Kim Phúc sau này trở thành một nhà hoạt động vì hòa bình.
Nick Ut kịch liệt phủ nhận cáo buộc từ Nguyễn Thành Ngỡ, một nhiếp ảnh gia tự do cũng có mặt tại hiện trường, người cho rằng chính ông mới là tác giả thực sự của bức ảnh.
Tuy AP vẫn giữ tên Ut là tác giả do thiếu bằng chứng phủ nhận, tổ chức World Press Photo đã quyết định gỡ tên ông khỏi danh sách tác giả. Họ cho biết có ba nhiếp ảnh gia có thể đã chụp bức ảnh hôm đó: Ut, Nguyễn và Huỳnh Công Phúc – nhiếp ảnh gia quân đội Việt Nam từng bán ảnh cho các hãng tin.
“Tỉ lệ nghi ngờ là quá lớn để có thể tiếp tục duy trì ghi nhận hiện tại,” bà Joumana El Zein Khoury, giám đốc điều hành World Press Photo, tuyên bố ngày 16/5. “Đồng thời, chúng tôi không có bằng chứng đủ thuyết phục để chuyển quyền tác giả cho người khác.”
 
Bức ảnh vẫn giữ danh hiệu World Press Photo of the Year năm 1973, dù nay quyền tác giả đang bị tranh cãi. (Một bản in của bức ảnh từng được bán đấu giá với giá lên tới €21.420, tương đương 31.738 USD.)
 
Trong bài viết cho Washington Post năm 2022, Ut kể lại: “Tôi nghe tiếng một đứa trẻ hét lên ‘Nóng quá! Nóng quá!’ Tôi nhìn qua kính ngắm Leica và thấy một bé gái đang chạy về phía tôi, đã tự xé bỏ quần áo đang cháy. Tôi bắt đầu chụp ảnh. Sau đó, cô bé hét với anh trai rằng mình sắp chết và muốn uống nước. Tôi lập tức bỏ máy ảnh xuống để giúp em. Tôi biết việc đó quan trọng hơn là tiếp tục chụp.”
 
Bộ phim tài liệu The Stringer, công chiếu tại Liên hoan phim Sundance tháng 1 vừa qua, do đạo diễn Bảo Nguyễn thực hiện, đã làm bùng lên tranh cãi. Phim theo chân nhiếp ảnh gia Gary Knight điều tra và đặt nghi vấn về quyền tác giả của Ut. Nguyễn Thành Ngỡ khẳng định ông mới là người chụp ảnh. (Tiêu đề phim nhắc đến vai trò của các nhiếp ảnh gia tự do.)
Nguyễn cho biết ông đã bán cuộn phim chụp hôm đó cho AP nhưng chỉ nhận được bản in và 20 đô la, không hề thấy lại âm bản. Ông biết đến sự nổi tiếng của bức ảnh nhiều tháng sau, nhưng bản in ông có đã bị vợ vứt bỏ.
Ngược lại, Ut có một sự nghiệp nhiếp ảnh lẫy lừng, nghỉ hưu tại AP năm 2017, trong khi Nguyễn chưa từng bán ảnh nào cho các hãng tin phương Tây.
AP đã thực hiện hai cuộc điều tra: một báo cáo dài 23 trang vào tháng 1 và một báo cáo sâu hơn dài 96 trang vào ngày 6 tháng 5. Trong đó nêu: “Để bác bỏ quyền tác giả được xác nhận tại hiện trường đòi hỏi bằng chứng rõ ràng. Điều đó là bất khả thi trong trường hợp này.”
10 người có mặt tại hiện trường hôm đó đã được phỏng vấn. Chỉ mình Nguyễn phủ nhận Ut là người chụp ảnh.
 
Carl Robinson, cựu biên tập viên ảnh của AP tại Sài Gòn, ủng hộ tuyên bố của Nguyễn. Robinson nói rằng Horst Faas – trưởng bộ phận ảnh – đã đổi tên tác giả từ Nguyễn sang Ut để giúp Ut, do anh trai Ut từng tử nạn khi tác nghiệp cho AP năm 1965.
David Burnett, nhiếp ảnh gia khác cũng có mặt hôm đó, viết trên Washington Post rằng ông đã thấy Nick Ut mang bản in 5x7 của bức ảnh ra khỏi buồng tối ngay sau khi tráng rửa.
Thư ký văn phòng Tu Pease nói bà là người xử lý mọi khoản thanh toán cho nhiếp ảnh tự do, nhưng không nhớ đã từng trả tiền cho Nguyễn.
Bằng chứng pháp y và tái dựng hiện trường bằng 3D cho thấy Ut có thể đã phải chạy một đoạn khá xa để chụp bức ảnh, điều này về mặt kỹ thuật là khả thi, nhưng tổ chức World Press Photo cho biết các bằng chứng kỹ thuật “nghiêng về Nguyễn”.
Tổ chức INDEX, chuyên phân tích ảnh pháp y, đã dựng lại hiện trường bằng mô hình 3D và kết luận chỉ có Nguyễn là người có vị trí phù hợp để chụp ảnh. Tuy nhiên, sau khi AP công bố báo cáo, INDEX nói vẫn đang xem xét thêm dữ liệu nhưng “rất khó có khả năng Nick Ut là tác giả bức ảnh.”
 
Phan Thị Kim Phúc, người bị bỏng nặng 30% cơ thể trong vụ việc, nói với AP rằng cô không nhớ rõ chi tiết ngày hôm đó. Cô gọi bộ phim tài liệu là “sự vu khống trắng trợn với Nick Ut… Tất cả nhân chứng hôm đó, bao gồm cả chú tôi, đều xác nhận Nick Ut là người chụp ảnh và đã cứu tôi, đưa tôi đến bệnh viện.”
AP cũng phát hiện một số điểm bất nhất trong lời kể của cả hai người. Nguyễn khai làm việc cho NBC ngày hôm đó nhưng không có bằng chứng xác thực. Ông từng nói bán ảnh trực tiếp cho AP, khi khác lại nói anh rể – làm việc ở NBC – đã giúp.
Ảnh được chụp bằng máy Pentax – loại máy Nguyễn sử dụng – chứ không phải Leica như Ut mô tả. Tuy nhiên, Ut nói ông mang theo nhiều máy, bao gồm cả chiếc Pentax của anh trai đã mất.
Câu chuyện phức tạp này khiến bức ảnh nổi tiếng hơn 50 năm qua trở nên mơ hồ. Không bên nào có thể đưa ra bằng chứng hoàn toàn thuyết phục. Tại sao Faas lại đổi tên tác giả, liều lĩnh làm tổn hại uy tín của AP? Nhưng nếu không phải, vì sao Robinson lại kể lại câu chuyện ấy sau nhiều thập kỷ? Phải chăng ông nhớ nhầm hoặc hiểu sai lời dặn của Faas? Có lẽ sự thật cuối cùng sẽ mãi bị chôn vùi trong làn khói của quá khứ.
Sarah Cascone
Phóng viên cao cấp
-ChatGPT dịch
==========
Authorship of Famous ‘Napalm Girl’ Photo Called Into Question
A documentary film cast 50 years of photojournalism history into doubt.
by Sarah Cascone
May 16, 2025
A photo of Vietnamese-American photographer Nick Ut as an elderly man holding a camera and standing in front of a large print of his iconic “Napalm Girl” photograph of a group of Vietnamese children, including a naked girl crying in pain, running down a road after a napalm attack during the Vietnam War, with soldiers and smoke in the background.
Nick Ut with his photo The Terror of War, known as "Napalm Girl" at an exhibition in Italy in 2022. Photo by Pier Marco Tacca/Getty Images.
Following a thorough investigation prompted by the bombshell claims of the documentary film The Stringer, a cloud of doubt hangs over the authorship of The Terror of War, often called “Napalm Girl,” which is one of the most famous photographs in art history.
Both the Associated Press and World Press Photo have conducted an investigation into the image, and neither could prove definitively whether Nick Ut, the Vietnamese American photojournalist credited for the Pulitzer Prize-winning image, was in fact the man who pushed the shutter.
The 1972 photo shows a group of Vietnamese children running in terror from an accidental napalm attack by South Vietnamese planes in Trảng Bàng. In the center is nine-year-old Phan Thi Kim Phuc, naked and badly burned, having torn off her clothes. The image became a powerful anti-war symbol, illustrating the atrocities of the Vietnam War, and Kim Phuc grew up to become an activist for peace.
Ut has strongly denied the allegations of Nguyen Thành Nghe, a freelance photographer who was also at the site and claims to have been the one who actually shot the well-known work.
A black and white photo of a group of Vietnamese children, including a naked girl crying in pain, running down a road after a napalm attack during the Vietnam War, with soldiers and smoke in the background
The Terror of War, or “Napalm Girl” photograph showing Phan Thi Kim Phuc running down a road near Trảng Bàng, Vietnam, after a napalm bomb was dropped on a group of South Vietnamese soldiers and civilians by a plane from the South Vietnam Air Force. The photo was credited to Nick Ut, but a documentary film, The Stringer, contends that it was taken by Nguyen Thanh Nghe. Photo: AP, public domain.
But where the AP ultimately decided to maintain Ut’s credit for the photo, given the lack of proof to the contrary, World Press Photo has stripped his authorship. The organization found that Ut was one of three photographers at Trảng Bàng that day who might have taken it, along with Nguyen and the Vietnamese military photographer Huỳnh Công Phúc, who sometimes sold his images to news agencies.
“We conclude that the level of doubt is too significant to maintain the existing attribution,” Joumana El Zein Khoury, World Press Photo’s executive director, wrote in a statement on May 16. “At the same time, lacking conclusive evidence pointing definitively to another photographer, we cannot reassign authorship either.”
The photograph was the World Press Photo of the Year in 1973, an award that still stands despite its now-contested authorship. (Prints have sold for as much as €21,420, or $31,738, at auction, according to the Artnet Price Database.)
“I heard a child screaming, ‘Nong qua! Nong qua!‘ ‘Too hot! Too hot!’ I looked through my Leica viewfinder to see a young girl who had pulled off her burning clothes and was running toward me. I started taking pictures of her,” Ut wrote in the Washington Post in 2022 of his experience taking the photo. “Then she yelled to her brother that she thought she was dying and wanted some water. I instantly put my cameras down so I could help her. I knew that was more important than taking more photos.”
The controversy emerged in January, with the premiere of The Stringer, directed by Bao Nguyen, at the Sundance Film Festival in Park City and Salt Lake City, Utah. In the movie, an investigation led by photographer and VII Photo Agency co-founder Gary Knight challenges Ut’s authorship, with Nguyen insisting that he was the one behind the camera. (The film’s title refers to the role of freelance photographers.) The documentary bills itself as uncovering “a scandal behind the taking of one of the most iconic photographs of the 20th century.”
A photo of Vietnamese photojournalist Nguyễn Thành Ngỡ and Australian journalist Carl Robinson posing together and smiling at the 2025 Sundance Film Festival, standing in front of a blue backdrop with event sponsor logos.
Nguyen Than Nghe and Carl Robinson attend the The Stringer premiere during the 2025 Sundance Film Festival at Ray Theatre on January 25, 2025 in Park City, Utah. Photo by Maya Dehlin Spach/Getty Images.
The release of the documentary and questions about the photo’s authorship “has been very difficult for me and has caused great pain,” Ut told the AP after the news outlet concluded its investigation. Now, with World Press Photo’s inconclusive conclusion, Ut’s legacy is once again left in question.
Nguyen claimed that he sold his film from that day to the AP, but never saw the negatives, only receiving a print of the photo and $20 in payment. He first learned of the photo’s fame months later, but his wife had already thrown out his print. While Ut went on to have a long and successful career as an photojournalist, retiring from the AP in 2017, Nguyen never sold a photograph to a Western news agency.
The AP has conducted not one but two investigations about the photo this year: A 23-page document in January, and an even more in-depth’s 96-page report, released on May 6 stating that “to overrule a photo credit given at the time would require clear evidence the decision made by those at the scene was incorrect. Such certainty is simply not possible to have here.”
The latter involved interviews with 10 people who were present at the moment the image was captured. Nguyen was the only one who denied that Ut was the photographer.
A still black and white image from the Vietnam War era showing a Vietnamese photojournalist taking a picture amid soldiers on a rural road, with dark smoke in the background.
A film still from The Stringer.
In the film, it is Carl Robinson, a former AP photo editor in Saigon, who backed Nguyen’s claims. Robinson said that Horst Faas, the bureau’s chief of photos, changed the photo credit from Nguyen to Ut, who worked for the AP. The documentary suggests that Faas wanted to help Ut because the photographer’s older brother had died in the field while on assignment for the AP in 1965.
The AP report reiterated this account. But it also included an account from David Burnett, another war photographer who was in Trảng Bàng that day. He wrote in the Washington Post of being back in the AP offices while the film was being developed: “Then, out from the darkroom stepped Nick Ut, holding a small, still-wet copy of his best picture: a 5-by-7 print of Kim Phuc running with her brothers to escape the burning napalm. We were the first eyes to see that picture; it would be another full day before the rest of the world would see it on virtually every newspaper’s Page 1.”
The office secretary, Tu Pease, told the AP investigation that she handled all freelance payments. She did not remember paying Nguyen for that image.
The chaos of war and the passing of time make it difficult to prove the attribution. In the age of film photography, photojournalists couldn’t be sure what their images would look like until they were back in the darkroom. Some of the eyewitnesses at Trảng Bàng and back at the AP offices have died. (Faas died in 2012.) Many of the photographs taken that day did not survive, lost to poor archiving or left behind when the AP was forced to close its bureau after the fall of Saigon in 1975.
A black and white photo of a young Vietnamese girl with severe burns and peeling skin from a napalm attack, standing naked and in distress on a road as a soldier and other children surround her, including a boy with his eyes closed and a journalist holding cameras.
A photo of Phan Thi Kim Phuc showing her severe burns, and, in the background, photographer Nick Ut. The AP reviewed this image in their efforts to determine if Ut was properly credited with taking the famous “Napalm Girl” photograph titled The Terror of War but was unable to come to a definitive answer. Photo: AP, Getty Images.
Forensic evidence, and analysis of where all the photographers on the scene were at the moment that the photograph was taken is inconclusive. Based on 3D design techniques used to recreate the scene, it appears that Ut would have had to sprint a fairly long distance in order to be in position to take the photo. This would have been technically possible, which is why World Press Photo found that “the current visual and technical evidence leans toward Nghệ.”
The nonprofit NGO INDEX, which specializes in expert forensic imaging judgments, analyzed footage of the events by creating a 3D model for The Stringer, and identified Nguyen as the only possible photographer. Following the release of the AP’s report, which cast doubt on their measurements, NGO Index told Le Monde that it was still reviewing additional evidence, but that it is “highly unlikely that Nick Ut was the author of the photograph.”
Kim Phuc, who suffered third-degree burns on 30 percent of her body from the napalm, told the AP that she did not personally remember the events of that day. She called the documentary an “outrageous and false attack on Nick Ut… All eyewitnesses on that horrific day including my uncle, have confirmed through the years that it was Nick Ut who was there, who ran towards me to take the photo and brought me to the closest hospital.”
A photo of Kim Phuc Phan Thi, the woman known as the “Napalm Girl,” sitting and smiling in front of a red-toned backdrop showing the iconic Vietnam War photograph of herself as a child running after a napalm attack. Her name is displayed above the image.
Vietnam war survivor Kim Phuc Phan Thi poses at the Unesco headquarters in Paris on October 4, 2019 in front of a large reproduction of the famous photograph of her as a girl running naked from a napalm attack. Photo: by Geoffroy Van der Hasselt/AFP via Getty Images.
The AP report also identified inconsistencies in both men’s stories. It found that Nguyen was not, as he claimed, working for NBC the day of the photo. He had alternately claimed to have sold the AP the photo himself, or that his brother-in-law, who worked next door at NBC had done so.
The investigation also determined the photo was taken with a Pentax camera—the type of camera Nguyen was using—not the Leica described by Ut. But Ut was carrying multiple cameras, which might have included his late brother’s Pentax. He told the AP that Faas said it was a Leica photo, but that it was possible he had used the Pentax instead.
This new evidence complicates the story of a photo the world has known for over 50 years—and neither possibility seems fully satisfying.
Why would Faas lie about the photographer, risking the AP’s editorial integrity, and also the possibility that one of the many people on the scene would reveal the truth? But on the other hand, why would Robinson come forward so many years later with a fabricated story? Is it possible Robinson confused which man took which photo, and mistook a simple correction from Faas as an order to lie? Frustratingly, it seems we may never know the full truth.
Sarah Cascone
Senior Writer

Wednesday, May 21, 2025

Ai Đã Đưa “Em Bé Napalm” Đến Bệnh Viện

Những người lính địa phương ở Trảng Bàng đã đưa những đứa trẻ đến nơi an toàn và cấp cứu những bé bị phỏng. Trong hình, KP và những đứa bé được quấn một chiếc khăn tắm quanh bụng, đang chạy theo những người lính địa phương quân. (Theo bài viết của Carl Robinson)

Tôi sinh ra khi đất nước không còn chiến tranh. Nhưng vẫn còn đó những ký ức hãi hùng trong chuyện kể và mất mát của chính gia đình mình.
Hồi đó nhà nào chả có người mất vì chiến tranh’, tôi nhớ lại lời một người thân kể mỗi dịp tôi về quê, thắp một nén nhang cho một người bác ruột hy sinh ở miền Trung. Bác tôi, ngày ấy 16 tuổi, là con trai một trong gia đình. Theo tiếng gọi ‘cứu quốc’ của thời đại mình, bác bỏ nhà đi vào chiến trường khốc liệt nhất ở Quảng Trị. Và nằm lại đó mãi mãi.
Tôi vẫn thấy hơn 50 năm sau, mỗi lần giỗ bác hoặc quanh bữa cơm họp mặt gia đình, các bác, dì và mẹ tôi vẫn rớm nước mắt khi nhớ thương về một người anh vẫn nằm lại nơi nào đó lạnh lẽo ở miền Trung, chưa được về với gia đình.
Chiến tranh ám ảnh thế hệ sinh ra và lớn lên trong hoà bình là chúng tôi theo cách ấy.


Khi lần đầu nhìn bức ảnh ‘Em bé Napalm’, tôi nhớ mình lướt qua thật nhanh hình ảnh khủng khiếp ấy. Hình ảnh như có tiếng kêu thét khủng khiếp của những người trong bức hình ấy, thực sự ớn lạnh.
Tôi trở thành một nhà báo trong gần 15 năm, một trải nghiệm không quá dài với công việc luôn cần nhiều trưởng thành mỗi ngày. Điều tôi kỳ vọng ở nghề nghiệp không chỉ là mình trở thành người chứng kiến, ghi nhận và tường thuật lịch sử của một thời kỳ nào đó. Như chính thời đại mình đang sống. Bức ảnh ‘Em bé Napalm’ và câu chuyện người phóng viên đã buông máy ảnh, cứu em bé trong hình ngay sau đó mới là câu chuyện tôi thực sự xúc động.
Thú thật, ở thời đại của mình, tôi ko muốn thế giới vẫn nhìn Vietnam dưới bức ảnh những đứa bé Việt bị bom cháy, chạy trần truồng, la hét vì hoảng sợ như hơn 50 năm trước.
Tôi đi tìm lại câu chuyện mà mình thực sự bị lay động về người phóng viên đã ở đó, viết lại lịch sử, và cứu người trong khoảnh khắc ngắn ngủi.
Nhưng có những điều dù muốn dù ko, lịch sử vẫn là sự thật. Không phải do ai sắp đặt.
Bức ảnh cậu bé Châu Phi đói gục bên chim kền kền đã khiến phóng viên ảnh chụp tấm hình ấy tự sát sau đó vì không chịu nổi áp lực dư luận.
Là một nhà báo, điều đó hẳn luôn đau đớn với tất cả những ai theo đuổi nghề nghiệp bằng trái tim và trách nhiệm.
Bức ảnh nổi tiếng ‘Hành quyết ở Saigon’ sau đó cũng khiến phóng viên chiến trường Eddie Adam phải đớn đau vì ông cảm thấy ‘một bức ảnh giết hai con người’! Và từ đó ông hiếm khi nhắc lại về bức ảnh đó – dù nếu lịch sử lặp lại, ông vẫn phải bấm máy. Tôi tin thế.
Tôi lần tìm về kho ảnh của ngày 8.6.1972 trong nhiệm vụ tìm kiếm tác giả thực sự của bức ảnh ‘Em bé Napalm’. Không một bài báo nào thời đó trên báo Việt nhắc tới chuyện cuộc đời những đứa trẻ sau khoảnh khắc bị đốt cháy bởi bom Napalm.
Tôi hy vọng tìm được gì đó từ câu chuyện mà sau này Nick Ut – tác giả bức ảnh thường kể: Ông đã đưa Kim Phúc và những em bé trong bức ảnh nổi tiếng đến bệnh viện, cứu cuộc đời họ một lần nữa.
Nhưng vẫn ko có một tin tức nào. Ngoại trừ bài báo của Carl Robinson, người đã cùng đồng nghiệp @Tom Fox của hãng AP đi tìm KP khi bức ảnh xuất hiện trên hàng loạt tờ báo quốc tế.
Thật lạ, tác giả của bức ảnh đã ở đâu sau câu chuyện đưa em bé Napalm đến bệnh viện, thậm chí phải dùng thẻ báo chí uy hiếp bác sĩ cứu đứa bé sắp chết?
Có quá nhiều bí ẩn trong mảnh ghép câu chuyện ấy. Và cuối cùng tôi tìm thấy một số bức ảnh khác sau khoảnh khắc ‘Em bé Napalm’.
Những người lính địa phương ở Trảng Bàng đã đưa những đứa trẻ đến nơi an toàn và cấp cứu những bé bị phỏng. Trong hình, KP và những đứa bé được quấn một chiếc khăn tắm quanh bụng, đang chạy theo những người lính địa phương quân.
Ngày hôm sau thì KP được tìm thấy đang được điều trị tại BV Nhi đồng 1, Sài Gòn nhờ câu chuyện mà Carl Robinson và đồng nghiệp Tom Fox đã kể trên AP. Họ cũng kết nối với các tổ chức từ thiện quốc tế giúp đỡ gia đình KP sau đó.
Là một nhà báo, tôi chỉ có thể đưa ra những chứng cứ mà mình có được. Sự thật ko thể tô vẽ theo bất cứ ai, bất kỳ điều gì.

Bài báo tường thuật đầu tiên của @Carl Robinson về bức ảnh Em bé Napalm

Bạn có thể cảm nhận khi một bức ảnh là “người chiến thắng,” và chúng tôi biết ngay bức “Em bé Napalm” là một trong số đó – giống như bức ảnh cảnh viên cảnh sát trưởng bắn chết một người Việt Cộng trên đường phố Sài Gòn trong Tết Mậu Thân năm 1968. Bức ảnh lập tức gây chấn động toàn cầu, nhưng nó tồn tại một cách độc lập – không có câu chuyện đi kèm. Sáng hôm sau ở văn phòng, New York liên tục yêu cầu thêm chi tiết. Cô bé đó là ai? Chuyện gì đã xảy ra?
Tôi được giao nhiệm vụ tìm “Em bé Napalm” trong hệ thống bệnh viện đông đúc và thường xuyên hỗn loạn ở Sài Gòn. Trái với những gì anh ta (Nick Ut) tuyên bố sau này, chính những người lính – chứ không phải Nick Ut – đã dội nước lên người cô bé và những nạn nhân bỏng khác, rồi đưa họ lên vài chiếc Tri-Lambrettas – loại xe taxi ba bánh – để đưa vào Sài Gòn.
May mắn thay, người bạn cũ của tôi từ tổ chức IVS, Tom Fox – người nói tiếng Việt trôi chảy – bất ngờ ghé qua văn phòng, và cùng với nhiếp ảnh gia Cung, chúng tôi lên đường vào thành phố để tìm cô bé. Trong khi đó, người được cho là tác giả bức ảnh – Nick Ut – thì không thấy đâu. Lại biến mất đâu đó.
Rất may mắn, chúng tôi tìm thấy cô bé ngay ở bệnh viện đầu tiên chúng tôi ghé. Không hiểu sao, cô bé lại được nằm riêng trong một căn phòng, với cha mẹ bên cạnh. Tên cô là Phan Thị Kim Phúc, khi đó mới 9 tuổi. Toàn thân cô được quấn băng trắng toát. (Nhiều năm sau, Tom Fox vẫn nhớ rõ mùi napalm trên người cô bé.) Cô hầu như không thể nói chuyện, nhưng nhờ Tom hỗ trợ, tôi lấy được đủ thông tin cho một bài viết, và Cung thì chụp vài bức gửi về bằng đường ảnh vô tuyến (radiophoto).
Cha cô bé – ông Phan Thanh Tùng – là một viên chức quận thất nghiệp, kể lại rằng vài ngày trước, quân Bắc Việt đã lén tràn vào khu vực phía tây thị trấn, gây nên cuộc giao tranh với quân chính phủ. Khi lũ trẻ ra ngoài chơi, không quân miền Nam bắt đầu không kích, và bọn trẻ nhảy xuống mấy cái giao thông hào cạnh chùa Cao Đài. Nhưng lính cảnh báo rằng ở đó cũng không an toàn.
Sau đó, khi bọn trẻ bắt đầu chạy dọc theo con đường, máy bay thả bom napalm gần như ngay trên đầu họ, khiến họ bốc cháy. Cậu em trai hai tuổi của Kim Phúc – người được mẹ ôm trong bức ảnh – bị bỏng nặng đến mức qua đời vài ngày sau đó. “Chiến tranh này tàn nhẫn quá,” ông Tùng bật khóc. “Giá mà lũ trẻ cứ ở lại trong chùa thì đâu đến nỗi…”
Từ lúc đó cho tới khi Sài Gòn thất thủ gần ba năm sau, Kim Phúc là câu chuyện của tôi. Và với một người sau này coi bức ảnh đó là trung tâm của cuộc đời mình, thì Nick Ut thật đáng ngạc nhiên khi lại rất xa cách – chưa bao giờ tỏ ra tò mò hay muốn đi cùng tôi trong những lần viết tiếp câu chuyện. Đến tháng 11, ngôi nhà của gia đình Kim Phúc bị phá hủy hoàn toàn khi quân Bắc Việt lại tấn công.
Nick Ut chỉ gặp lại cô bé sau khi giành được giải Pulitzer năm sau đó, khi AP yêu cầu chụp bức ảnh hai người cùng nhau tại Trảng Bàng. (Sau này, họ cũng gặp lại ở Cuba – nơi Kim Phúc đi du học, và sau đó xin tị nạn ở Canada. Nhưng lúc ấy, Nick Ut đã sống trong vinh quang, còn những cộng tác viên địa phương như tôi thì vẫn tiếp tục công việc ở AP. Dù sao thì, anh ta đã “thắng” giải Pulitzer.)

Bức ảnh “Em bé Napalm” – rồi đến các bài viết của tôi – đã khơi dậy làn sóng cảm thông và giúp đỡ từ khắp nơi, đặc biệt là nước Mỹ. Một trong những món quà cảm động nhất đến từ một người phụ nữ ở Brooklyn, New York, người đã gửi cho Kim Phúc một chiếc váy hơi rộng – nhưng cô bé lại rất thích cuốn sách tô màu đi kèm.
Lời đề nghị kỳ lạ nhất đến từ Sở Cứu hỏa New York – họ quyên góp được vài nghìn đô và muốn mời Kim Phúc sang Mỹ nghỉ hè, có thể để đi xe cứu hỏa quanh thành phố. Họ theo đuổi đề xuất đó suốt nhiều tháng, cho tới khi tôi phải viết thư lịch sự đề nghị họ gửi số tiền đó cho gia đình nghèo của cô bé thì hơn. Khi tiền đến, tôi đã cùng cha cô tới chi nhánh ngân hàng Chase Manhattan ở Sài Gòn – nơi ông ấy tự hào mở tài khoản ngân hàng đầu tiên trong đời.

Sự chú ý xoay quanh trường hợp của Kim Phúc cũng góp phần làm nổi bật hoạt động của Phòng khám Barsky – một cơ sở chuyên điều trị bỏng do USAID tài trợ, vốn điều trị cả nạn nhân chiến tranh lẫn tai nạn thường ngày, trong bối cảnh Quốc hội Mỹ đang cắt giảm viện trợ nước ngoài. Khi Kim Phúc bắt đầu loạt phẫu thuật ghép da tương đối thường quy tại đây, nữ giám đốc của phòng khám đã tự hỏi tại sao trường hợp của cô bé lại nhận được nhiều sự chú ý đến vậy, trong khi còn rất nhiều bệnh nhân bỏng Việt Nam khác trong tình trạng tệ hơn nhiều. Và khi nhìn quanh phòng khám đang chịu nhiều áp lực ấy, tôi cũng không thể không đồng ý với bà. Nhưng may mắn là các khoản quyên góp mới đã giúp Phòng khám tiếp tục hoạt động.
Lê Vân

Phi Vụ Hành Quân Cuối Cùng

 

Lời người viết:

Để ghi lại cuộc thư hùng giữa đội phòng không CS và phi tuần Khu trục A-1 (Skyraider) của tôi vào ngày 27- 04- 1975.

Để chia xẻ với thân nhân những người đã bị Cộng sản giết chết sau ngày 30-04-1975 mà bọn Cộng sản gán cho họ là những người mang “nợ máu”.

* * *

Trong cuộc đời bay bổng, mỗi người phi công có một chuyến bay cuối cùng. Chuyến bay đó có thể là một chuyến bay bình thường, nhưng đôi khi lại là một chuyến bay mà người phi công không bao giờ quên hay là một chuyến bay vĩnh viễn ra đi để lại bao thương tiếc!

Cuộc chiến tự vệ của người miền Nam mang đầy chính nghĩa, trong khi bọn Cộng sản Bắc Việt đã trắng trợn xâm lǎng dưới chiêu bài giải phóng miền Nam!?

Miền Nam trù phú, tự do, và phát triển theo đà vǎn minh thế giới, đáng lẽ được cơ hội giải phóng miền Bắc mới phải?. Hàng lớp thanh niên tha thiết với lời kêu gọi của Tổ Quốc, yêu chuộng tự do và quyết tâm bảo vệ đất nước đã gia nhập các binh chủng, các cơ quan công quyền, các đoàn thể … để góp phần bảo vệ quê hưong, xứ sở.

Tôi là một trong những người đã rời bỏ mái trường thân yêu, xa gia đình và để lại phía sau một cuộc sống phồn hoa, để thi hành nhiệm vụ người trai trong thời chiến.

Không quân là quân chủng mà tôi xếp vào hàng đầu cho sự chọn lựa, mặc dầu tôi chưa biết gì về KQ hay các ngành nghề khác. Cái vốn liếng của tôi chỉ là một mớ vǎn hóa từ nhà trường. Tôi gia nhập KQ vào tháng mười nǎm 1964, sau một cuộc khám sức khỏe hết sức gay go. Tôi cùng hai người nữa được chọn vào ngành phi hành trong số hơn hai mươi người không được may mắn. Ðây là giai đoạn thử thách đầu tiên mà người phi công phải hội đủ trên tiêu chuẩn về sức khỏe.

Nha Trang là căn cứ huấn luyện quân sự và Anh ngữ. Tôi được sang Mỹ để thụ huấn thêm Anh ngữ trước khi sang trường bay. Người phi công đã trải qua nhiều giai đoạn thử thách về khả nǎng và sức khỏe trong thời gian huấn luyện. Tôi tốt nghiệp với chỉ số khu trục cánh quạt trên chiếc Skyraider và được chuyển đến PÐ-524 ở Nha Trang trong khi phi đoàn này sắp sửa đi Mỹ học chuyển tiếp phản lực cơ A-37 và sau cùng tôi được chuyển đến PÐ-114 để bay L-19.

Tôi thất vọng vì phải bay loại Quan sát. Một số Sĩ quan thâm niên trong ngành Quan sát sang Mỹ thụ huấn Khu trục khi về VN lại bay Quan sát, chuyện này cũng không có gì thắc mắc, nhưng tôi là một phi công trẻ với nhiều nhiệt huyết đáng lẽ phải được bay phi cơ khu trục. Tôi nhiều lần nghĩ đến chuyện làm đơn xin BTLKQ để trở về ngành Khu trục, nhưng nghĩ cho cùng, mình là một tân sĩ quan thì ai mà quan tâm đến?!. Thời gian trôi qua, mộng ước được bay phi cơ khu trục đã tàn phai như một khối bǎng tan dần trong mùa hè.

Tôi bắt đầu quen với cô Loan 19 (L- 19), thân cô mảnh khảnh và tha thướt theo mây gió và lời cô êm diệu như tiếng ru. Sau mấy lần cùng cô với vũ điệu dưới trǎng sao, tôi trở thành người bạn đồng hành trên khắp vùng Cao nguyên. Chiếc L-19 nhẹ nhàng với đôi cánh rộng và lững lơ trên không như con diều hâu đang sǎn mồi, mà lũ chuột (VC) đang tìm nơi ẩn núp. Sau một thời gian ngắn, tôi được gởi sang Phi đoàn Quan sát của Mỹ trong cùng cǎn cứ để thụ huấn cách hướng dẫn phi cơ khu trục Mỹ. Sau đó tôi được dẫn các phi tuần Mỹ oanh kích trong các chiến trường lớn. Người phi công quan sát giữ một vai trò quan trọng trên không, phối hợp với KQ và Lục Quân cùng với các cánh quân trên chiến trường một cách chặt chẽ và chính xác. Họ là người quyết định cho việc thả bom của phi cơ khu trục trong sự an toàn cho phi công và đơn vị bạn, và mang lại kết quả tối đa cho quân bạn.

Phi công Quan sát rất hiếm bị đạn phòng không, nhưng lại bị mất tích do thời tiết xấu, nhất là ở vùng Cao nguyên. Sự việc này thường xảy ra khi thi hành một phi vụ hành quân ở xa và nhiên liệu còn lại đủ để trở về, trong khi gặp thời tiết xấu hoặc bay một lộ trình quá xa và gặp thời tiết xấu ở điểm đến, người phi công khó mà chấp nhận một sự quay trở về vì thời gian và sự giới hạn của nhiên liệu.

Sau hơn hai nǎm với Phi đoàn Quan sát, tôi được BTLKQ gọi về Phi đoàn Khu trục cánh quạt 518 ở Biên Hòa vào hè nǎm 70. Cái cảm giác vui sướng là được gần gia đình, nhưng hồi hộp là không biết mình còn đủ khả nǎng để điều khiển con “Bò Ðiên”(Skyraider, ám chỉ loại phi cơ rất khó bay) này hay không?.

Chiếc Skyraider có một sức nặng 25.000 lbs gồm xǎng, 8 trái bom 500lbs hay 12trái 250 lbs và 800 viên đại bác 20 ly. PÐ-518 với một tòa nhà cao rộng bằng gạch trông đồ sộ. Tôi có cơ hội gặp lại bạn bè du học ngày xưa và thích cái phù hiệu Phi Long của Phi đoàn, nó được diễn tả

như một con rồng nằm trên bàn đồ VN, cái đuôi quấn lẩy miền Bắc, cái đầu nhả tên lửa vào đó. Sau bốn phi vụ bay quen tay và một phi vụ thả bom ở vùng giải tỏa, tôi bắt đầu bay hành quân. PÐ-518 đã tạo được nhiều chiến công, đặc biệt là chiến trường bên biên giới Kampuchia, Tử thủ của Ch/t L.V.Hưng ở An Lộc, Mùa hè Ðỏ lửa ở Quảng Tri…Ðể vinh danh những anh hùng đã hy sinh cho Tổ Quốc từ ngày tôi đến phi đoàn và kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của cố Th/tá Nguyễn vǎn Ninh (Ninh de Gaulle), Th/tá Trương Phùng (rạng sáng 29-4-75 bị bắn trên không phận Saigon) Ð/úy Nguyễn Duy Vinh (ở Kampuchia), Ð/úy Trần Thế Vinh, Ð/úy Phan Quang Tuấn(Vinh và Tuấn hy sinh trong trận Mùa Hè Ðỏ Lửa ở Quảng Trị) và Th/úy Nguyễn Vǎn Thành.

Biệt đội Khu trục gồm sáu phi công được biệt phái cho Tân Sơn Nhất (TSN) trong nhiều nǎm qua để bảo vệ Biên Hòa khi hũu sự. Phòng không của Việt Cộng ngày càng gia tăng trên các chiến trường, nhất là hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7. Các phi vụ hành quân cũng bị giảm dần trong đầu nǎm 1975 qua sự giới hạn tiếp liệu của Mỹ. Mỗi phi vụ chỉ được trang bị phân nửa bom đạn.

Vào giữa tháng 04-75 tôi đang biệt phái cho TSN. Một tuần sau, hai Phi đoàn Khu trục cánh quạt 514 và 518 di tản về TSN. Một sự bận rộn chưa từng thấy đã diễn ra hàng ngày. Phi đoàn không có phần sở chính thức đễ làm việc vì vậy nhân viên phi đoàn không còn gặp nhau thường xuyên. Tất cả gặp nhau trong buổi sáng để nhận phi vụ hành quân trong ngày vì mỗi người còn phải lo cho gia đình trong lúc tạm sống ở một nơi vừa đến. Buổi sáng ngày 27 tháng 4 nǎm 75, tôi nhận một phi vụ hành quân với phi tuần hai chiếc AD-6. Tôi dẫn phi tuần, Tr/úy B bay chiếc so hai. Chúng tôi thường bay với nhau vì cùng chung phi đội. Trên đường ra bãi đậu phi cơ, Tr/úy B ghi tầnsố, điểm hẹn và danh hiệu của phi cơ quan sát trên vùng. B lúc nào cũng tươi cười vui vẻ và đựợc bạn bè quý mến, bay bổng một cách an phi và kỷ luật, anh cũng sắp ra phi tuần Phó (pilot dẫn phi tuần hai phi cơ).

Tôi không biết trước đặc tính của phi vụ, chuyện này cũng thường tình, nhưng điểm hẹn là Biên Hòa. Thời tiết rất tốt cho buổi sáng ngày hôm đó. Hai phi cơ được trang bị mỗi chiếc 12 trái bom 250 lbs. Sau khi cất cánh, hai phi cơ lấy hướng đến Biên Hòa với cao độ nǎm ngàn bộ và đang trên tần số riêng của phi tuần.

- Hai, kiểm soát và báo cáo tình trạng phi cơ.

- Một, phi cơ ở tình trạng tốt

- Biên Hòa ở hướng mười hai giờ.

- Hai thấy.

- Làm gì mà xe cộ trên xa lộ BH- Saigon nhiều như vậy?

- Có lẽ dân chúng di tản về Saigon.

Bỗng dưng trong tôi gợi lại hình ảnh của cǎn cứ Biên Hòa, nơi mà chúng tôi quây quần trong cuộc sống hàng ngày. BH là một trong những cǎn cứ đồ sộ của KQ, nhưng nay không còn là nơi xuất phát các phi vụ hành quân yểm trợ cho vùng III. Tiếc thay cho sự mất mát và thay đổi quá nhanh!

- Hai, qua tần số hành quân.

- Hai rõ.

- Thanh Xà (TX) đây Phi Long (PL) gọi.

- TX nghe PL 5 trên 5. Xin cho biết vị trí và vũ khí được trang bị.

- PL đang ở phia Nam Biên Hòa, 5 dặm, cao độ 5000 bộ, hai A-1 với 24 trái 250 lbs

-TX nhận rõ, mục tiêu của PL là một vị trí phòng không ở phía Bắc phi trường BH khoảng 4 dặm, không có quân bạn, khi nào đến mục tiêu cho biết.

- PL nhận rõ.

- Hai có nghe FAC (Air Forward Control) không?

- Hai nghe rõ.

- TX nhận ra bạn đang trên không phận phi trường BH, khi nào sẵn sàng cho biết để TX đánh dấu mục tiêu, TX sẽ giữ hướng Nam mục tiêu, với cao độ 2000 bộ.

- PL nhận rõ.

Phi tuần đang ở trên mục tiêu, tôi chọn hướng tấn công từ Ðông sang Tây để đặt đối thủ trong sự khó khǎn qua ánh mặt trời của buổi sáng.

- Hai ra đội hình thả bom và cơ chế 26, 46 (2600 vòng phút, 46/56 hay 82% của động cơ), đánh từ Ðông sang Tây, quẹo trái, mỗi Pass (một lần thả) hai trái và kiểm soát phi cơ lần cuối.

- Hai rõ.

Tiếng động cơ vang vội, thân phi cơ rung chuyển, tốc độ tǎng nhanh trong cơ chế tác chiến như mãnh hổ đang lao mình tấn công con mồi. Tôi trong tư thế dè dặt như thường lệ.

- TX, bạn có thể cho trái khói.

- TX vào đánh dấu mục tiêu.

Trái khói trắng bốc lên gần con sông và trên một vùng rộng không cây cối, tôi quẹo gắt để điều chỉnh vòng đánh.

- Yêu cầu PL đánh ngay trái khói.

- Một vào.

Tôi vừa lắc cánh vào thì thấy một vòng tròn lửa với đường kính khoảng 100 thước, nhiều dây đạn lửa nối đuôi theo lên và bao quanh phi cơ, có dây chỉ cách phi cơ mươi thước, trong khi phi cơ chưa kịp thǎng bằng đôi cánh, tôi tiếp tục vào cho đến khi mục tiêu hiện trên máy nhắm, rồi thả hai trái, tôi biết là hơi sớm hơn hai giây đồng hồ vì bị bắn quá rát. Tôi kéo phi cơ lên 5G (Gravity force) mắt mờ mặc dầu đã làm phượng pháp chống G.

Hai vào và kéo lên an toàn.

http://vnafmamn.com/aircraft/VNAF_AD6d.jpg

Phi công lead (Một) có nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn cho phi tuần trong mọi trường hợp! Tôi quyết định lấy cao độ 8000 bộ để tạo khó khǎn cho xạ thủ phòng không, vì vậy mà độ chính xác cùa quả bom cũng bị giảm đi. Phi tuần không thể là mục tiêu ngon lành cho hơn 20 khẩu phòng không vì phi cơ sẽ bị trúng đạn trước khi thả bom.

- Hai theo tôi lấy cao độ 8000.

- Hai rõ.

Hai vẫn bình tĩnh thi hành nhiệm vụ và đặt tin tưởng vào sự quyết định của tôi trước sự sống chết trong đường tơ sợi tóc. Cộng sản đã quy tụ hết phòng không trong vùng và chọn một kỹ thuật phòng không mà tôi chưa bao giờ thấy, có thể là một chiến thuật phòng không ở miền Bắc?. Tôi tin là định mệnh sẽ dành cho bọn xâm lǎng . Sau hai phút lấy cao độ và điều chỉnh vòng đánh, tôi bắt đầu thả. Giống như lần trước, nhưng các dây đạn có phần chậm hơn và cách xa phi cơ đôi chút, do đó mà tôi có đủ thời gian đặt máy nhắm vào mục tiêu và thả hai trái bom đúng thời điểm. Hai vào thả và ra cũng được an toàn.

Tôi bắt đầu cho Pass thứ 3 và khám phá ra là chỉ còn một phần tư vòng tròn bên trái bắn lên, tính ra là sáu dây đạn. Như vậy ba phần tư kia đang làm gì? Cường độ cǎng thẳng đã giảm bớt, chúng tôi tiếp tục thả Pass thứ 4 và 5. Pass cuối cùng, thứ 6, vẫn còn phần tư bắn lên. Hy vọng bọn Công sản sẽ toại nguyện với câu “Sinh Bắc Tử Nam” qua bốn trái cuối cùng! Những tên nầy đã từng bắn hạ phi cơ khu trục trong nhiều năm qua là nhờ tài ngụy trang của chúng, nhưng hôm nay chúng không dùng kỹ thuật đó cho nên đã đi gặp “tên cáo già gieo máu lửa” (HCM) trước khi cạn ly rượu mừng chiến thắng!

Hai thả xong và vào hợp đoàn, phi tuần lấy hướng về TSN trong khi TX báo cáo kết quả là toàn diện mục tiêu đã trúng bom.

Người lính KQ làm việc ngày đêm, bảo trì và trang bị vũ khí cho phi cơ để cuối cùng các quả bom rơi chích xác vào mục tiêu qua bàn tay người thả, họ đã thật sự đóng góp vào cuộc chiến và hy sinh cho Tổ Quốc!

Rồi ngày 30 tháng 04 năm 1975 đến Miền Nam sụp đổ trong sự uất ức, ngỡ ngàng và đau xót của Quân và Dân miền Nam nước Việt.

Chính thể Việt Nam Cộng Hòa cáo chung…Tôi không còn có dịp được lái máy bay nữa, hóa ra câu chuyện kể trên chính là Phi vụ hành quân cuối cùng về cuộc đời bay bổng của tôi…

Phi Long 31

Sunday, May 18, 2025

Có Một Nick Út Mà Tôi Biết

 

CÓ MỘT NICK ÚT MÀ TÔI BIẾT
Câu chuyện về nhà nhiếp ảnh Nick Út và bức ảnh “Em bé Napalm”, trước khi bị đưa ra ánh sáng, đã có nhiều bài viết khẳng định rằng bức ảnh này không phải của ông ta. Năm 2015, nhà bình luận Đức Hồng (*) viết trên BBC tiếng Việt, đã khởi đi rất nhiều tranh luận của người Việt trong và ngoài nước về sự thật ai là tác giả của bức ảnh này. Bằng giọng văn thuyết phục và quả quyết, ông Đức Hồng cho thấy sau bức ảnh “Em bé Napalm” đó còn nhiều điều chưa nói hết, khiến lâu nay nhiều người Việt Nam vẫn lầm tưởng.
Bài viết đặt một câu hỏi – rất hiển nhiên – mà cũng rất cay đắng, vì sao cái gọi là nạn nhân chiến tranh xâm lược của Đế Quốc Mỹ, cô Kim Phúc, cuối cùng đã tìm cách đào thoát và được giúp tỵ nạn ở phương Tây, chứ không ở lại Việt Nam. Nạn nhân đó cũng không muốn được hưởng vinh quang như một biểu tượng chống chiến tranh. Câu hỏi đặt ra là cô Kim Phúc, nhân vật chính trong bức ảnh đó, có hài lòng cho cuộc đời trở thành điểm tựa đẹp nhất về tuyên truyền cho quân đội miền Bắc Việt Nam hay không?
Sự thật là năm 1992, cô Kim Phúc đã thoát khỏi Việt Nam, tỵ nạn ở Canada để không biến mình thành công cụ truyên truyền cho một phía, cũng như tác giả Đức Hồng đặt lên một câu hỏi rất đáng chú ý rằng năm 1972, những người lính Cộng sản Bắc Việt đang làm gì ở đất của miền Nam trong một hiệp định phân chia đất nước vẫn còn hiệu lực. Và vì sao “các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?”.
Sự thật ít người biết là gia đình cô Kim Phúc cũng bị đánh tư sản vào năm 1975. Cả nhà sống rất khó khăn. Năm 1982 khi một phóng viên người Đức đến Việt Nam để tìm lại nhân vật lịch sử trong bức ảnh “em bé Napalm” thì Kim Phúc bị đẩy thành một nhân vật tuyên truyền cho giai đoạn sau chiến tranh. Mọi thời gian sinh hoạt của cô Kim Phúc lúc bấy giờ đều bị công an kiểm soát chặt chẽ. Thậm chí Kim Phúc bị buộc thôi học trường đại học Y khoa ở Sài Gòn, về sống ở quê Trảng Bàng để tiện dễ kiểm soát ngôn ngữ tuyên truyền.
Sau đó, khi lấy chồng là một du học sinh sống ở Cuba, nhân một chuyến đi, máy bay ngừng chặng ở Gander, Newfoundland (Canada), Kim Phúc cùng chồng trốn khỏi sự kiểm soát của công an viên đi kèm và xin tị nạn. Mọi sự kiện này không là lời kể miệng, mà được bày tỏ công khai trên trang web riêng của Kim Phúc tên là Kim Foundation, quỹ từ thiện do cô sáng lập và cũng như trong quyền hồi ký The Girl in the Picture, hiện vẫn còn bán online trên các nhà sách lớn, như Amazon.
Cùng với những câu hỏi của tác giả Đức Hồng, cũng có một câu hỏi khác được đặt ra, là một người phóng viên của AP, vì sao từ vị trí là một nhiếp ảnh gia ghi chép sự kiện một cách trung dung, ông Nick Út dần dần biến mình thành một người quảng bá sai ý nghĩa của bức ảnh, biến mình thành một nhân vật tuyên truyền hơn cả cô Kim Phúc?
Trong cuộc tranh cãi về sự kiện ông Nick Út trở lại Việt Nam hồi Tháng Sáu 2015, họa sĩ Trịnh Cung nêu một ý kiến khác. “Nếu là một phóng viên có đạo đức, Nick Út đã phải có một thái độ khác. Trái lại, ông Út đã biến cơ hội giữ lại khoảng khắc thương đau của một sinh mệnh, tạo hào quang cho mình, mà không đứng về sự thật của nạn nhân trong suốt nhiều năm liền”, họa sĩ Trịnh Cung nói, ”giả sử khi được trao giải Pulitzer, ông Nick từ chối và trao tặng cho nạn nhân mà ông chụp được, có lẽ ông đã giải bày được một cách khiêm tốn về cơ may – hơn là tài năng – và tỏa sáng gấp bội lần hơn lúc này”.
Nhưng điều quan trọng là bên cạnh sự thật ít ai biết về cô Kim Phúc khi phải đào thoát sang Canada – trong số ít đó có ông Nick – thì dường như ông cũng tảng lờ việc đứng về phía nỗi khổ và khó khăn của cô Kim Phúc, và chỉ bám chặt vào bề mặt bức ảnh, lấy câu chuyện để nuôi ánh hào quang cho mình, phản bội lại đạo đức nghề nghiệp báo chí, là phải nói thật về điều mình thấy, trình bày sự thật mà mình biết.
Đạo đức nghề nghiệp đó, đã từng được chứng minh như chuyện nhà nhiếp ảnh Eddie Adams với bức ảnh chấn động thế giới về tướng Nguyễn Ngọc Loan khi bắn phục binh Bắc Việt Bảy Lốp vào năm 1968. Sau khi biết được sự thật, nhất là khi nghe tin tướng Loan qua đời, Eddie Adamas đã nói với báo chí rằng ông đã rất hối hận vì bức ảnh đó làm hại một tướng quân và làm hại một chế độ.
Đạo đức con người cũng đã được thể hiện, khi diễn viên Jane Fonda đi ra miền Bắc Việt Nam cổ vũ cho cuộc chiến tranh tương tàn vào năm 1972. Nhiều năm sau, nhiều lần, người diễn viên này đã bày tỏ sự hối hận vô bờ bến về hành động của mình khi biết rõ tác hại từ chuyến đi của mình. Bà Jane Fonda vẫn lập lại lời xin lỗi đến các cựu chiến binh Mỹ, mỗi khi có dịp.
Nhưng Nick Út thì khác. Ông quay lại Việt Nam để làm triển lãm riêng, ra sách, chụp hình với các quan chức và đặc biệt là tảng lờ về cuộc đời thật của cô Kim Phúc mà ông lúc nào cũng quảng bá là thương mến và thân thiết.
Trong các buổi ra sách, và ký tặng, ông Nick cũng chưa bao giờ nói về sự thật của cuộc đời cô Kim Phúc, cũng như luôn mỉm cười im lặng, như một sự tán đồng với hệ thống truyên truyền Nhà nước rằng đó chính là bức ảnh ông chụp như để tố cáo tội ác xâm lược của đế quốc Mỹ.
Khi được hỏi về việc bị thế giới phát hiện ông là “kẻ cắp” của bức ảnh lừng danh, Nick Út nói ông sẽ đòi công lý “với nỗi đau của mình”. Nhưng có nỗi đau nào bằng chuyện công sức của một người bị cưỡng đoạt suốt nửa thể kỷ, và ông Nick Út thì bao giờ cũng cười tươi che hết ống kính khi nghe nhắc về bức ảnh này. Cũng như có nỗi đau nào diễn đạt được thành lời, khi cô Kim Phúc luôn bị ông giấu trong bóng tối, để làm sáng lòa hơn gương mặt của ông trước báo chí và ống kính truyền thông Việt Nam.
Ảnh: ông Nick Ut về nước ra sách và thân tặng cho lãnh đạo Việt Nam (trái), cuốn sách về cuộc đời của em bé Napalm (phải)

TRUTH. AUTHORSHIP. INTEGRITY. REDEMPTION.
"The World Press Photo of the Year in 1973 was awarded to Associated Press photographer Nick Út for the photograph ‘The Terror of War'. However, this attribution has now come under serious question.
"New research by The VII Foundation revealed in their January 2025 documentary, ‘The Stringer’, asserted that Nick Út is not the author of this photograph. This prompted deep reflection at World Press Photo and a subsequent investigation between January and May 2025.
"Investigative analysis from this report indicated that, based on analysis of location, distance, and the camera used on that day, photographers Nguyễn Thành Nghệ or Huỳnh Công Phúc may have been better positioned to take the photograph, rather than Nick Út. Due to this current doubt, World Press Photo has suspended the attribution to Nick Út.
"Importantly, the photograph itself remains undisputed, and the World Press Photo award for this significant photo of a major moment in 20th-century history remains a fact. Only the authorship is suspended and under review. This remains contested history, and it is possible that the author of the photograph will never be fully confirmed. The suspension of the authorship attribution stands unless it is proved otherwise."
All reactions:
1